CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm - Khái niệm nguồn nhân lực ngành y tế: Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”[5]. Theo định nghĩa nhân lực y tế của Tổ chức Y tế Thế giới, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế trong hai lĩnh vực đông và tây y, thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế. - Điều dưỡng: Có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về điều dưỡng, dưới đây là một số định nghĩa được đa số các nước trên thế giới công nhận.
Theo định nghĩa Hiệp hội điều dưỡng Mỹ (American Nurses Asociation): Điều dưỡng là chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho con người [20]. Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ, ĐD là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản và kỹ thuật ĐD chuyên khoa tại các cơ sở y tế. Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education -CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [25]. - Cơ sở ĐTLT của ngành y tế: Là các Bệnh viện, viện có giường bệnh; viện nghiên cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế được Bộ Y tế thẩm định và công nhận theo quy định [25].
- Nhu cầu đào tạo (NCĐT): Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là 5 định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở để đánh giá nhu cầu đào tạo. Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ. Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học. Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo để có thể thấy rõ.
NCĐT chính là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng, yêu cầu trong công việc và cuộc sống của họ [17]. - Xác định nhu cầu đào tạo: Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở cho thực hiện đánh giá NCĐT: Đánh giá NCĐT là một quá trình tìm hiểu rõ về người tham gia và năng lực của họ trước khi đào tạo. Đánh giá NCĐT quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay không thích của người học. Đánh giá NCĐT giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có [20].
Tiêu chuẩn chức danh và chức năng, nhiệm vụ của ĐD tại Việt Nam 1. Nhiệm vụ, tiêu chuẩn trình độ đào tạo bồi dưỡng Theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y [4]. Nội dung ĐD hạng IV ĐD hạng III 1. Nhiệm vụ -Về chăm sóc - Có nhiệm vụ khám, nhận - Có thêm nhiệm vụ thực hiện và kiểm người bệnh tại định, theo dõi, tham gia tra đánh giá công tác chăm sóc, tham cơ sở y tế chăm sóc, thực hiện kỹ thuật gia xây dựng và thực hiện quy trình điều dưỡng cơ bản, ghi chép chăm sóc người bệnh.
diễn biến để phát hiện báo cáo kịp thời. -Về sơ cứu, cấp - Thực hiện việc chuẩn bị - Được chỉ định và thực hiện các kỹ cứu thuốc và phương tiện cấp thuật cấp cứu trong tình huống khẩn cứu; tham gia hoặc thực hiện cấp như: Sốc phản vệ, cấp cứu người kỹ thuật sơ cấp cứu. bệnh ngừng tim, ngừng thở. 6 -Về truyền - Đánh giá nhu cầu tư vấn - Thêm nhiệm vụ tham gia xây dựng thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng nội dung, chương trình, tài liệu và đánh giáo dục sức dẫn người bệnh thực hiện giá công tác truyền thông, tư vấn, giáo khỏe truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe.
dục sức khỏe. -Về chăm sóc - Đều thực hiện truyền thông, giáo dục vệ sinh phòng bệnh, Tham gia sức khỏe cộng chăm sóc sức khỏe ban đầu, Thực hiện dịch vụ chăm sóc tại nhà. đồng - Về bảo vệ và - Tất cả điều dưỡng đều có nhiệm vụ này. thực hiện quyền người bệnh -Về phối hợp, - Tham gia phân cấp chăm - Có thêm nhiệm vụ hỗ trợ, giám sát và hỗ trợ công tác sóc người bệnh, chuẩn bị và chịu trách nhiệm về chuyên môn đối điều trị hỗ trợ người bệnh chuyên với việc thực hiện nhiệm vụ của điều khoa, quản lý hồ sơ bệnh án.
dưỡng cấp thấp hơn. - Về đào tạo, - Hướng dẫn thực hành kỹ - Đào tạo và hướng dẫn thực hành cho nghiên cứu và thuật điều dưỡng và tham sinh viên và tham gia xây dựng chương phát triển nghề gia thực hiện áp dụng sáng trình, tài liệu đào tạo liên tục nghiệp kiến, cải tiến chất lượng trong CSNB. Tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng - ĐD hạng IV tốt nghiệp trung cấp trở lên - ĐD hạng III tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành ĐD. - Trình độ ngoại ngữ bậc 1 trở lên theo Thông - Trình độ ngoại ngữ bậc 2 trở lên theo tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 Thông tư số 01/2014/TT- của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trình độ tin học BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo theo Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11 dục và Đào tạo. Trình độ tin học đạt tháng 3 năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền theo quy định tại Thông tư thông. số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11 tháng 3 năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông. Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của điều dưỡng Tại chương II, Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” đã quy định về nhiệm vụ của người ĐD gồm 12 nhiệm vụ chính như sau: 7 (1) Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe; (2) Chăm sóc về tinh thần; (3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân; (4) Chăm sóc dinh dưỡng; (5) Chăm sóc phục hồi chức năng; (6) Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; (7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh; (8) Chăm sóc người bệnh hấp hối và người bệnh tử vong; (9) Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng; (10) Theo dõi, đánh giá người bệnh; (11) Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh; (12) Ghi chép Hồ sơ bệnh án.
Thực trạng nhân lực điều dưỡng: Hiện nay, cả nước có 127.190 điều dưỡng, chiếm khoảng 40% nhân lực chuyên môn của ngành y tế [26]. Dịch vụ chăm sóc do điều dưỡng cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế, đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Được sự quan tâm của Bộ Y tế, ngành Điều dưỡng đã có sự phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực sau: Thiết lập hệ thống quản lý điều dưỡng từ Bộ Y tế đến các Sở Y tế và các Bệnh viện và hệ thống tổ chức Hội Điều dưỡng ở các cấp đã phối hợp song hành, hỗ trợ lẫn nhau và cùng phát huy hiệu quả. Hệ thống điều dưỡng trưởng đã phát huy được vai trò quản lý chăm sóc và tham gia xây dựng các chính sách liên quan đến công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh.Điều dưỡng đã trở thành một ngành học với nhiều cấp trình độ, từ trung cấp lên cao đẳng, đại học điều dưỡng và thạc sỹ điều dưỡng.
Các chính sách đối với người ĐD và các chuẩn mực hành nghề điều dưỡng đang được bổ sung, hoàn thiện: Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn quốc gia về thực hành chăm sóc ĐD; Nhà nước đã có quyết định công nhận danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, Thầy thuốc nhân dân cho người ĐD, người hộ sinh. Với những chinh sách hiện hành đã mở ra tương lai cho ngành điều dưỡng phát triển và người ĐD có thể yên tâm phấn đấu và tiến bộ trong nghề nghiệp. Chất lượng chăm sóc người bệnh đã có nhiều chuyển biến rõ rệt thông qua việc đổi mới các mô hình phân công chăm sóc, tổ chức chăm sóc người bệnh toàn diện, chuẩn hoá các kỹ thuật ĐD. Vai trò và vị thế nghề nghiệp của người ĐD đã có những thay đổi cơ bản.
Tuy nhiên, ngành ĐD đang đứng trước nhiều thách thức của sự phát triển: thiếu đội ngũ giáo viên và thiếu chuyên gia đầu ngành về ĐD nên phải sử dụng tới gần 70% đội ngũ giáo viên giảng dạy ĐD là bác sĩ; khoa 8 học ĐD chưa phát triển kịp với những tiến bộ của Điều dưỡng thế giới trong đào tạo Điều dưỡng; người điều dưỡng chưa được đào tạo để thực hiện thiên chức chăm sóc mang tính chủ động và chuyên nghiệp; nguồn nhân lực điều dưỡng mất cân đối [23]. Các văn bản chính sách liên quan đến công tác đào tạo liên tục 1.