ĐẶT VẤN ĐỀ Mô hình bệnh tật của một quốc gia, một cộng đồng là sự phản ánh tình trạng sức khỏe, tình hình kinh tế xã hội của quốc gia hay cộng đồng đó. Tình hình bệnh tật thƣờng thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị,. Theo Báo cáo thống kê Ƣớc tính sức khỏe toàn cầu đo lƣờng gánh nặng bệnh tật, hoặc năm sống khỏe mạnh mất đi (sử dụng chỉ số DALYs) của WHO năm 2016, nhóm bệnh lây nhiễm, sức khỏe bà mẹ, bệnh lý thời kỳ chu sinh, và dinh dƣỡng chiếm 29%, nhóm bệnh không lây nhiễm chiếm 60%, chấn thƣơng chiếm 11% , trong đó nguyên nhân chấn thƣơng hàng đầu là do tai nạn giao thông chiếm 3%. 10 nguyên nhân hàng đầu cho gánh nặng bệnh tật trên Thế giới là: bệnh nhồi máu cơ tim, đột quỵ, nhiễm trùng hô hấp dƣới, biến chứng sinh non, tai nạn giao thông, bệnh tiêu chảy, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đái tháo đƣờng, ngạt sinh và chấn thƣơng khi sinh, dị tật bẩm sinh [51].
Mô hình bệnh tật ở Việt Nam trong vòng hơn 30 năm trở lại đây dựa trên các số liệu thống kê cho thấy cơ cấu giữa 3 nhóm bệnh lây nhiễm, không lây và tai nạn, thƣơng tích đã có sự thay đổi nhanh chóng, với sự gia tăng tỷ trọng của các bệnh không lây nhiễm và tai nạn, thƣơng tích. Theo số liệu thống kê từ các bệnh viện từ 1976 đến 2015, nhóm các bệnh do tai nạn, ngộ độc, chấn thƣơng, tai nạn bắt đầu tăng nhanh trong giai đoạn từ 1986 – 2006 và tiếp tục duy trì ở tỷ lệ trên 10% từ năm 2006 trở lại đây [10]. Theo WHO năm 2016 tại Việt Nam , gánh nặng bệnh tật do các bệnh lây nhiễm, sức khỏe bà mẹ, bệnh lý thời kỳ chu sinh, và dinh dƣỡng chiếm 16,8%, nhóm bệnh không lây nhiễm chiếm 70,0%, chấn thƣơng chiếm 13,2%, trong đó nguyên nhân chấn thƣơng hàng đầu là do tai nạn giao thông chiếm 5%. Theo văn phòng đại diện của WHO tại Việt Nam cho thấy: tai nạn thƣơng tích đứng thứ 5 trong số 20 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam (2010), ƣớc tính gây ra 12,8% trong tổng số ca tử vong năm 2010, gấp đôi số ca tử vong do bệnh truyền nhiễm (5,6%) và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em (lứa tuổi 0 - 17) [52].
2 Sự thay đổi về cơ cấu gánh nặng bệnh tật và tử vong đòi hỏi hệ thống y tế cũng phải có những đáp ứng, thay đổi phù hợp cả về tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ và khả năng cung ứng dịch vụ. Trong điều kiện đất nƣớc ta còn nhiều khó khăn, đầu tƣ cho y tế mặc dù ngày càng tăng trong những năm gần đây (2013: 118.691 tỷ đồng) nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của sự phát triển chung của y tế toàn quốc cũng nhƣ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân [16]. Việc xác định mô hình bệnh tật giúp cho ngành y tế xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách toàn diện, đầu tƣ cho công tác phòng chống bệnh có chiều sâu và trọng điểm, từng bƣớc hạ thấp tối đa tần suất mắc bệnh và tỉ lệ tử vong cho cộng đồng, nâng cao sức khỏe nhân dân. Là một trung tâm ngoại khoa lớn của miền Bắc, ngoài việc cấp cứu điều trị bệnh nhân ngoại khoa thông thƣờng, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức khám cấp cứu nhiều bệnh nhân chấn thƣơng, đặc biệt là chấn thƣơng do tai nạn giao thông.
Số lƣợng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện tăng đều hàng năm: năm 2016 là 246.178 bệnh nhân, năm 2017 là 273. Mô hình, cơ cấu bệnh tật thay đổi, trong khi mô hình tổ chức, quản lý của Bệnh viện Việt Đức vẫn không thay đổi trong nhiều năm, dẫn đến nhiều bất cấp trong việc phân bố nguồn lực và giƣờng điều trị giữa các khoa phòng. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú và đáp ứng về nhân lực, giường bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2015 - 2017” nhằm đƣa ra mô hình bệnh tật của bệnh viện, cung cấp thông tin cho Ban lãnh đạo bệnh viện có những định hƣớng phát triển chuyên môn. Bên cạnh đó cũng giúp cho các bộ phận khác trong bệnh viện nhận thấy khả năng đáp ứng một số nguồn lực của bệnh viện, từ đó có kế hoạch cho những năm tiếp theo nhằm nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh, phục vụ nhân dân tốt hơn.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2015 - 2017. Phân tích thực trạng đáp ứng về nhân lực, giƣờng bệnh với mô hình bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2015 - 2017. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm mô hình bệnh tật Mô hình bệnh tật là tỷ lệ các nhóm bệnh tật của một khu vực địa lý nhất định trong một giai đoạn thời gian cụ thể. Từ mô hình bệnh tật ngƣời ta có thể xác định đƣợc các bệnh tật phổ biến nhất cho định hƣớng chiến lƣợc về y tế cũng nhƣ xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trong từng khu vực cụ thể [5]. Phân loại bệnh tật 1. Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật: Theo các phân loại này bệnh tật đƣợc chia thành 3 nhóm chính: − Bệnh lây − Bệnh không lây − Tai nạn, ngộ độc, chấn thƣơng Cách phân loại này cho ta cái nhìn bao quát, tổng thể mô hình bệnh tật ở mỗi quốc gia, mỗi vùng miền địa lý, nó mang tính chất xác định xu hƣớng phát triển của bệnh tật.
Nhìn vào mô hình bệnh tật này chúng ta sơ bộ đánh giá đƣợc sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền [4], [30], [36], [48]. Cách phân loại này số liệu đơn giản, tƣơng đối chính xác do số liệu đủ lớn. Nó rất thích hợp cho việc so sánh giữa các quốc gia, các vùng miền cũng nhƣ có cáo nhìn bao quát chung về mô hình bệnh tật của một đất nƣớc, là một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, vùng miền đó. Nó có tính chất dự báo xu hƣớng bệnh tật trong tƣơng lai và giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể để hoạch định chính sách tầm vĩ mô [4], [30], [36], [48].
Phân loại bệnh tật theo tỷ lệ mắc và chết cao nhất: Đặc điểm cơ bản của phân loại này là đƣa ra tên bệnh hoặc nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, có thể phân chia theo từng lứa tuổi tùy thuộc tác giả hoặc tùy thuộc yêu cầu nghiên cứu. 5 Cách phân loại này đƣa ra thứ tự các bệnh thƣờng gặp cũng nhƣ mức độ nguy hiểm của một số bệnh dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong, từ đó có những chính sách đầu tƣ thích hợp nhằm can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong [4], [30], [36], [48], [49]. Đây là cách phân loại đơn giản, dễ thực hiện, dễ áp dụng nhất là những nơi có mật độ dân số thấp, số lƣợng khám chữa bệnh không đủ lớn để phân loại chi tiết, những nơi chƣa quản lý cơ sở dữ liệu bằng máy tính [4], [30], [36], [48], [49]. Nhƣợc điểm của các phân loại này không cho chúng ta nhìn toàn diện về mô hình bệnh tật, không đánh giá đƣợc chính xác sự tiến triển và biến động của mô hình bệnh tật [4], [30], [36], [48], [49].
Phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu Một số chuyên khoa còn có các cách phân loại khác mang tính chuyên sâu nhƣng thƣờng chỉ áp dụng ở một số nƣớc có nền y học phát triển và trình độ khoa học kỹ thuật cao do tính chất phức tạp của chẩn đoán: Phân loại Ung thƣ quốc tế (ICD - O), Phân loại Rối loạn tâm thần và hành vi (ICD - 10), Phân loại Quốc tế về chức năng khuyết tật và sức khỏe cho trẻ em, thanh niên (ICF - CY),. Ở Việt Nam gần đây cũng có một số nghiên cứu bƣớc đầu đề cập đến phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu nhƣ nghiên cứu của Đặng Thanh Tùng và cộng sự đƣợc thực hiện tại Viện sức khỏe tâm thần năm 2011 [44]; nghiên cứu của Đoàn Văn Chính về xu hƣớng biến đổi của bệnh lý huyết học đƣợc thực hiện tại Viện Huyết học - truyền máu Trung ƣơng giai đoạn 2010 - 2014 [21]. Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề liên quan đến sức khỏe (International Classification of Diseases - ICD) Phân loại bệnh tật quốc tế đầu tiên đƣợc chấp nhận đã đƣợc Ủy ban của Viện Thống kê quốc tế do Jacques Bertillon (1851 - 1922) đứng đầu chuẩn bị, bao gồm 161 tiêu đề. Đó là sự tổng hợp từ các bảng phân loại của Anh, Đức, Thụy Sỹ trên nguyên tắc của Farr đƣa ra là phân biệt bệnh nói chung và bệnh của cơ quan đặc biệt hoặc vị trí cơ thể.
Phân loại này đƣợc gọi là phân loại Bertillon về nguyên nhân 6 của cái chết, đƣợc đƣa ra vào năm 1893 tại Hội thảo do Viện nghiên cứu tổ chức tại Chicago. Phân loại Bertillon hiệu đính lần đầu tiên vào năm 1900 và sau đó nó lại đƣợc hiệu đính lại vào các năm 1909, 1920, 1929, 1938. Mục đích ban đầu của phân loại Bertillon là đƣa ra các nguyên nhân tử vong đƣợc duy trì cho tới lần sửa đổi thứ 5 vào năm 1938 [11], [12], [30]. Từ lần hiệu đính thứ 6 trở đi vào năm 1946, WHO trực tiếp chỉ đạo việc hiệu đính.
Lần hiệu đính thứ 6 chính thức thiết lập Danh sách quốc tế về nguyên nhân bệnh, thông qua danh sách toàn bộ cho cả tử vong và bệnh, kiến nghị một chƣơng trình toàn diện về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê quốc tế sức khỏe. Phân loại chính thức đƣợc đƣa ra sử dụng ở nhiều nƣớc [11], [12], [30]. Trong quá trình phát triển, phân loại này đã đƣợc đổi tên vài lần và ngày nay đƣợc gọi tên chính thức là Phân loại quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan - International Classification of Diseases (gọi tắt là ICD) [11], [12], [30]. Hệ thống phân loại này giúp chúng ta có một mô hình bệnh tật đầy đủ, chi tiết.