ĐẶT VẤN ĐỀ Trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, nguồn nhân lực y tế đƣợc coi là một trong những thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lƣợng dịch vụ y tế [1]. Nhƣ vậy, nguồn nhân lực y tế có vai trò quan trọng, quyết định đến việc thành công hay thất bại trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, việc phát triển và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực y tế là một yêu cầu quan trọng và cấp bách của nƣớc ta nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng. Trong ứng phó với đại dịch COVID-19, vai trò của y tế dự phòng càng trở nên quan trọng.
Mặc dù, không trực tiếp tham gia khám chữa, cấp cứu bệnh nhân, nhƣng các y, bác sĩ, cán bộ làm công tác y tế dự phòng luôn là những ngƣời đi đầu trong “trận chiến”, xông pha vào các vùng tâm điểm để dập dịch nhanh chóng và hiệu quả. Với tinh thần “chống dịch nhƣ chống giặc”, đội ngũ cán bộ y tế dự phòng đã vƣợt lên trên những khó khăn đặc thù, kể cả nguy cơ cao bị lây nhiễm bệnh… ngày đêm lặng thầm cống hiến, góp phần quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Dù nắng hay mƣa, thời gian cao điểm dịch hay không bùng phát dịch… thì những cán bộ làm công tác y tế dự phòng vẫn kiên trì bám địa bàn, tích cực hƣớng dẫn nhân dân phòng chống dịch bệnh. Họ đƣợc ví nhƣ những chiến sĩ thầm lặng trên mặt trận phòng chống bệnh tật, không quản ngại khó khăn, nguy hiểm để bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng.
Những năm qua, nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực y tế đối với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, ngành y tế tỉnh Bến Tre đã có rất nhiều giải pháp nhằm nâng cao số lƣợng và chất lƣợng của nguồn nhân lực y tế. Tuy nhiên, hiện nay, với bình quân 9,39 bác sĩ/vạn dân, chỉ mới đáp ứng 80% nhu cầu chăm sóc y tế của ngƣời dân [16]. Ngoài ra, nguồn nhân lực y tế tỉnh Bến Tre, còn gặp 1 số khó khăn nhƣ tuyển mới không đƣợc, nhân lực đƣợc đào tạo lại "ra đi". Từ năm 2009 đến nay, Trung tâm Y tế huyện Mỏ Cày Bắc có 5 bác sĩ đƣợc cử đi đào tạo chuyên khoa, nhƣng sau đó tất cả đều chuyển đi nơi khác.Từ năm 2008 đến nay, Sở Y tế đã trình UBND tỉnh Bến Tre cử đi đào tạo 523 bác sĩ và 38 dƣợc sĩ đại học.
Tuy nhiên, sau khi đƣợc đào tạo có 52 ngƣời (trong đó có 44 bác sĩ, 7 dƣợc sĩ và một cử nhân) bồi hoàn kinh phí để đi làm việc nơi khác. Nguyên nhân đƣợc xác định là mức 2 lƣơng quá thấp [16]. Nhƣ vậy, với nguồn nhân lực còn thiếu nhƣ hiện nay, công việc của cán bộ y tế thƣờng xuyên bị quá tải và phải đối mặt rất nhiều áp lực và rủi ro cao từ môi trƣờng làm việc. Do đó, nhằm khuyến khích nhân viên y tế khắc phục những khó khăn để làm việc hiệu quả, chúng ta cần phải có giải pháp tạo động lực giúp họ có những suy nghĩ và hành động tích cực để làm việc nhiệt tình, hăng say, hứng thú với nghề.
Đặc biệt, đối với bác sĩ khối y học dự phòng, là những bác sĩ làm việc trong hệ thống y tế dự phòng, thì vấn đề này càng phải đƣợc quan tâm hơn. Bởi vì, y tế dự phòng đóng vai trò “gác cổng” trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngoài ra, trong tình hình dịch bệnh phức tạp, nguy hiểm, khó kiểm soát, bệnh không không rõ nguyên nhân liên tục xuất hiện nhƣ hiện nay và sức ép của xã hội thì trách nhiệm của ngành y tế dự phòng là rất lớn. Ngành y tế tỉnh Bến Tre có 09 đơn vị tuyến huyện, trong đó có 6 Trung tâm Y tế tuyến huyện có hai chức năng điều trị và dự phòng, 3 Trung tâm Y tế một chức năng làm công tác dự phòng, 157 trạm y tế xã, phƣờng, thị trấn với 3.912 nhân viên y tế [16].
Trong đó, có khoảng 94 bác sỹ làm công tác dự phòng. Nhƣ vậy, số lƣợng bác sỹ làm việc trong khối y học dự phòng là tƣơng đối ít và thiếu. Một trong những nguyên nhân của sự thiếu hụt là do công việc rất vất vả, độc hại, thƣờng xuyên phải đi công tác cơ sở, thu nhập thấp, nên các bác sỹ không chịu làm việc trong môi trƣờng y tế dự phòng và các nhân viên y tế, học sinh không chịu học chuyên ngành về y tế dự phòng. Do đó, việc việc duy trì nguồn nhân lực y tế dự phòng, đặc biệt là nhóm bác sỹ là rất cần thiết để nhằm bảo đảm lợi ích cho cả hai phía, Trung tâm Y tế và ngƣời lao động.
Bởi vì, vấn đề tạo động lực sẽ giúp cho ngƣời lao động có tinh thần làm việc hăng say hơn, đƣợc thỏa mãn về các chính sách đãi ngộ của tổ chức. Do đó, họ sẽ gắn bó lâu dài với Trung tâm Y tế và cống hiến hết mình cho hoạt động của đơn vị. Hai nhà khoa học Inke Mathauer, Ingo Imhoff và các cộng sự (2006) đã nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên y tế tại Benii,Kenya và chỉ ra rằng nhân viên y tế đang mất dần động cơ làm việc. Nghiên cứu cũng cho thấy những ƣu đãi phi vật chất và các công cụ quản lý nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc [20].
Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tạo động lực cho ngƣời lao động nhƣng chủ yếu ở trong các doanh nghiệp kinh tế còn trong ngành y thì 3 chƣa có nhiều và đặc biệt do nhiều nguyên nhân khác nhau (đặc thù ngành, đặc điểm vùng miền, các yếu tố bên trong và ngoài cơ quan…) mà các nghiên cứu thƣờng chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi thƣờng chỉ có tính chất cục bộ trong đơn vị đƣợc nghiên cứu. Hiện nay, chƣa có một hệ thống tiêu chuẩn để xây dựng phƣơng pháp tạo động lực chuẩn chung cho các đơn vị nói chung và các cơ sở y tế nói riêng. Tùy vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà mỗi một đơn vị xây dựng cho mình một chính sách tạo động lực làm việc cho nhân viên [11]. Do đó, các nhà quản lý luôn phải tìm ra những chính sách, những cách thức khác nhau để tạo động lực làm việc cho nhân viên của mình [12].
Vì vậy, câu hỏi đƣợc đặt ra là động lực làm việc của bác sỹ khối y học dự phòng nói riêng đang công tác tại Trung tâm Y tế tuyến huyện hiện nay nhƣ thế nào? Yếu tố nào ảnh hƣởng đến động lực làm việc của bác sỹ khối y học dự phòng? Nhằm tìm hiểu vấn đề này và giúp cho các nhà quản lý có thêm thông tin tham khảo để duy trì và nâng cao động lực cho đội ngũ bác sỹ khối y học dự phòng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Động lực làm việc của bác sỹ khối y học dự phòng và một số yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm Y tế tuyến huyện, tỉnh Bến Tre, năm 2021”. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả động lực lực làm việc của bác sỹ khối y học dự phòng tại các Trung tâm Y tế tuyến huyện, tỉnh Bến Tre năm 2021 2. Phân tích một số yếu ảnh hƣởng đến động lực làm việc của bác sỹ khối y học dự phòng tại các Trung tâm Y tế tuyến huyện, tỉnh Bến Tre năm 2021 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Động lực lao động và các yếu tố liên quan đến động lực lao động 1. Định nghĩa động lực Động lực là mức độ của một cá nhân sẵn sàng để phát huy và duy trì một nỗ lực nhằm hƣớng tới mục tiêu của tổ chức [19] 1. Động lực làm việc 1. Lý thuyết về động lực làm việc Một tổ chức chỉ có thể đạt đƣợc năng suất cao khi có những thành viên của tổ chức làm việc tích cực và sáng tạo.
Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phƣơng pháp mà những ngƣời quản lý sử dụng để tạo động lực lao động cho các thành viên. Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức. Do đó, các yếu tố giúp tạo ra động lực làm việc cho ngƣời lao động là yếu tố cá nhân và yếu tố tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con ngƣời và trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời.
Do đó hành vi có động lực (hay hành vi đƣợc thúc đẩy, đƣợc khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của các yếu tố liên quan đến môi trƣờng làm việc và các quy định hoặc chính sách. Các yếu tố thuộc về cá nhân ngƣời lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính mình, chẳng hạn nhƣ nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị. Sự thành công của một tổ chức phụ thuộc vào việc có hay không một đội ngũ những ngƣời lao động có năng lực và nhiệt tình cao. Nhƣ vậy, động lực mang yếu tố cá nhân, xuất phát từ bên trong tâm thức của con ngƣời và động lực mang yếu tố tổ chức thì xuất phát từ bên ngoài nhƣ môi trƣờng và các chính sách, quy định đối với ngƣời lao động [13] 1.
Tổng quan về thang đo động lực làm việc Việc đo lƣờng trong nghiên cứu thƣờng gắn với những con số, những con số này biểu hiện các đặc trƣng cần quan sát. Vì vậy, các nhà nghiên cứu phải xây dựng thang đo để đo lƣờng các đặc tính của sự vật đƣợc quan sát, nghiên cứu. Trong nghiên cứu khoa học, có nhiều loại thang đo lƣờng. Ngƣời nghiên cứu sử dụng loại thang đo nào là tùy dạng nghiên cứu trong thực tiễn.
Mỗi thang đo đều 6 bao hàm các giả định về mối quan hệ đối với mỗi tình huống thực tế. Cho nên mỗi loại thang đo có ý nghĩa khác nhau đối với sự quan sát và nghiên cứu. Các công cụ đo lƣờng đƣợc sử dụng trong việc thu thập và nghiên cứu dữ liệu thƣờng có những đặc tính hoặc ít nhất 1 trong 4 cấp bậc đo lƣờng (4 loại thang đo) là: Thang đo biểu danh, thang đo thứ tự, thang đo khoảng và thang đo tỷ lệ [2].