Tổng quan luận án
Trong chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật Tạo hình, việc xử trí các tổn khuyết phần mềm phức tạp hoặc thay thế các tổ chức mô kém chất lượng do di chứng tai nạn giao thông, tai nạn lao động và sau phẫu thuật cắt bỏ khối u ung thư (đặc biệt là ung thư vùng đầu mặt cổ, khoang miệng) đặt ra nhiều yêu cầu kỹ thuật. Trước đây, việc che phủ tổn khuyết chủ yếu dựa vào quá trình tự biểu mô hóa, ghép da rời, sử dụng vạt da ngẫu nhiên hoặc vạt cơ có cuống liền. Những phương pháp truyền thống này thường đòi hỏi thời gian điều trị kéo dài, nguy cơ co rút sẹo, hạn chế chức năng vận động và để lại tổn thương lớn tại nơi cho vạt.
Sự ra đời của vạt mạch xuyên (perforator flap) đã mang lại giải pháp bảo tồn cấu trúc giải phẫu bên dưới: cho phép lấy vạt da - mỡ mỏng mà không cần hy sinh khối cơ, mạc sâu hay các dây thần kinh vận động chính, đồng thời mở rộng chiều dài cuống mạch nhờ phẫu tích xuyên qua cơ hoặc vách gian cơ. Các vạt mạch xuyên xuất phát từ chi dưới như vạt nhánh xuyên động mạch cơ bụng chân trong (Medial Sural Artery Perforator - MSAP), vạt nhánh xuyên động mạch cơ bụng chân ngoài (Lateral Sural Artery Perforator - LSAP) và vạt nhánh xuyên động mạch gối xuống / vạt hiển (Descending Genicular Artery Perforator - DGAP) sở hữu các đặc tính phù hợp cho tạo hình: tổ chức da mỏng, mềm mại, ít lông, khẩu kính mạch tương đối lớn và cuống mạch dài.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mạch máu cấp máu cho cơ bụng chân ở đoạn ngoài cơ và trong cơ, hoặc ứng dụng lâm sàng bước đầu với vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân trong. Các dữ liệu giải phẫu định lượng chi tiết về hệ thống nhánh xuyên của động mạch cơ bụng chân ngoài cũng như động mạch gối xuống và động mạch hiển trên cơ thể người Việt Nam còn thiếu hụt.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận án “Nghiên cứu giải phẫu các vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân và động mạch gối xuống” được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể:
- Mô tả giải phẫu mạch máu các vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân trong, động mạch cơ bụng chân ngoài và động mạch gối xuống.
- Xác định phạm vi cấp máu cho da của các nhánh mạch xuyên các vạt nêu trên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống mạch máu, nhánh xuyên và vùng da cấp máu của động mạch cơ bụng chân trong, động mạch cơ bụng chân ngoài và động mạch gối xuống trên thi thể người Việt Nam trưởng thành và trên người sống.
- Phạm vi không gian thực hiện: Bộ môn Giải phẫu học – Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ môn Giải phẫu – Đại học Y Hà Nội và Khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Bạch Mai.
- Quy mô mẫu nghiên cứu:
- 41 thi thể bảo quản bằng dung dịch formalin (38 thi thể tại Đại học Y Dược TP.HCM và 3 thi thể tại Đại học Y Hà Nội), thực hiện 62 phẫu tích vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân trong và ngoài; 56 phẫu tích mạch máu vạt mạch xuyên động mạch gối xuống.
- 7 thi thể tươi đông lạnh tại Đại học Y Dược TP.HCM, thực hiện bơm màu trên 10 tiêu bản động mạch cơ bụng chân trong, 10 tiêu bản động mạch cơ bụng chân ngoài và 14 tiêu bản nhánh xuyên động mạch gối xuống.
- Dữ liệu chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (MSCT 128 dãy) hệ động mạch gối xuống và động mạch hiển trên 14 người trưởng thành (24 phim chụp) tại Bệnh viện Bạch Mai.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa toàn diện các giai đoạn phát triển của kỹ thuật chuyển vạt trong phẫu thuật tạo hình và tái tạo:
- Giai đoạn trước năm 1970: Chủ yếu ứng dụng vạt da ngẫu nhiên và vạt cơ có cuống, phụ thuộc vào tỷ lệ chiều dài/chiều rộng cố định và có nguy cơ hoại tử cao nếu vượt quá giới hạn tưới máu.
- Thập niên 1970 - 1980:
- McGregor (1973) mô tả vạt bẹn và đưa ra khái niệm vạt mẫu trục (axial pattern flap) có cuống mạch xác định chạy dọc trục vạt, tạo cơ sở cho ca chuyển vạt tự do đầu tiên.
- Mathes và Nahai (1981) đưa ra bảng phân loại kiểu cấp máu cho cơ, thúc đẩy việc sử dụng các vạt da - cơ (musculocutaneous flap).
- Ponten (1981) mô tả vạt cân da cẳng chân, chứng minh vai trò tưới máu của đám rối mạch mạc sâu, cho phép thiết kế vạt có tỷ lệ dài/rộng lớn gấp nhiều lần vạt ngẫu nhiên.
- Cormack và Lamberty (1984) phân loại mạch máu nuôi da thành 4 nhóm: loại A (động mạch da trực tiếp), loại B (động mạch cơ da), loại C (động mạch cân da/vách da) và loại D (động mạch thần kinh da).
- Ian Taylor (1987, 1989) đưa ra học thuyết Angiosomes (lãnh địa cấp máu của một động mạch da) và thiết lập bản đồ 40 vùng với hơn 374 mạch xuyên đường kính > 0,5 mm trên toàn cơ thể. Đồng thời, Taylor và cộng sự (1987) phân chia nhánh xuyên thành 2 nhóm lớn: nhánh xuyên trực tiếp và nhánh xuyên gián tiếp.
- Nakajima và cộng sự (1986) phân loại chi tiết 6 dạng nhánh xuyên cấp máu cho da.
- Thập niên 1990 đến nay:
- Koshima và Soeda (1989) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ vạt nhánh xuyên (perforator flap), đánh dấu bước chuyển sang kỹ thuật bóc tách vạt da không cần lấy kèm cơ hoặc cân sâu.
- Kim (2001) tinh giản phân loại nhánh xuyên thành 3 dạng: nhánh xuyên trực tiếp, nhánh xuyên cơ da và nhánh xuyên vách da.
- Hội nghị quốc tế năm 2001 tại Gent (Bỉ) thông qua Đồng thuận Gent (Gent Consensus), chuẩn hóa danh pháp vạt mạch xuyên gọi theo tên của động mạch nguồn.
- Hội nghị tại Tokyo chuẩn hóa định nghĩa vạt cánh quạt (propeller flap) là vạt đảo được chuyển tới nơi nhận qua chuyển động xoay quanh trục mạch xuyên.
Đối với từng vạt cụ thể được khảo sát trong luận án:
- Vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân trong (MSAP):
- Nghiên cứu giải phẫu quốc tế: Cavadas và cs (2001) lần đầu mô tả giải phẫu trên 10 chi thể; Hallock (2001), Thione và cs (2004), Shim và cs (2006), Okamoto và cs (2007), Torres và cs (2007), Kao và cs (2010), Altaf (2011), Wong và cs (2012), Otani và cs (2012). Các tác giả ghi nhận động mạch cơ bụng chân trong cho từ 1 - 5 nhánh xuyên cơ da, tập trung ở vùng cách nếp khoeo 5 - 19 cm và cách đường giữa bắp chân 0,5 - 4,5 cm, chiều dài cuống mạch trung bình 11 - 18 cm.
- Ứng dụng lâm sàng: Montegut và cs (1996) báo cáo ca lâm sàng vạt cuống liền đầu tiên; Hallock (2004), Umemoto và cs (2005), Shim và cs (2006), Kim và cs (2012) áp dụng che phủ tổn khuyết vùng gối và cẳng chân. Ở dạng vạt tự do: Cavadas và cs (2001), Chen và cs (2005), Xie và cs (2007), Kim và cs (2009), Lin và cs (2011, 2013), Wang và cs (2013) dùng tạo hình bàn tay, bàn chân; Chen và cs (2008), Kao và cs (2009) ứng dụng tái tạo lưỡi, sàn miệng và khoang miệng - hàm mặt sau phẫu thuật ung thư, so sánh với vạt cẳng tay quay.
- Vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân ngoài (LSAP):
- Otani và cs (2012) khảo sát 47 cẳng chân châu Á, phát hiện nhánh xuyên của động mạch cơ bụng chân ngoài có tỷ lệ vắng mặt lên tới 57%. Các báo cáo lâm sàng của Umemoto và cs (2005), Van Waes và cs (2012) cho thấy vạt LSAP có thể dùng che phủ tổn khuyết quanh gối và cẳng chân.
- Vạt mạch xuyên động mạch gối xuống / Vạt hiển (DGAP):
- Acland (1981) lần đầu mô tả giải phẫu và ứng dụng vạt hiển trên 59 chi thể tử thi và 23 ca lâm sàng, xác định động mạch hiển là nhánh tận của động mạch gối xuống, tách các nhánh da gần (trước và sau cơ may) cấp máu cho da vùng trên trong gối.
- Masquelet và Gilbert phát triển các biến thể vạt cân da và vạt thần kinh da động mạch hiển dựa trên nhánh hiển xa và chuỗi mạch nối với động mạch chày sau.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt vạt cơ, vạt cân da và vạt mạch xuyên đã được công bố bởi các tác giả: Nguyễn Tiến Bình, Nguyễn Việt Tiến, Nguyễn Huy Phan, Lê Gia Vinh, Nguyễn Xuân Thu, Mai Trọng Tường, Võ Văn Châu, Ngô Xuân Khoa, Vũ Nhất Định, Lê Văn Đoàn, Lê Phi Long, Lê Diệp Linh. Trong đó, Ngô Xuân Khoa (2002) đã nghiên cứu mạch máu động mạch cơ bụng chân đoạn ngoài cơ và trong cơ nhưng chưa khảo sát các nhánh xuyên cơ da.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là thực hiện khảo sát toàn diện, có hệ thống về giải phẫu nhánh xuyên của động mạch cơ bụng chân trong, động mạch cơ bụng chân ngoài và động mạch gối xuống/động mạch hiển trên cơ thể người Việt Nam; xác định vùng da cấp máu thực nghiệm bằng phương pháp bơm màu và đo đạc trên phần mềm đồ họa; đồng thời ứng dụng kỹ thuật chụp MSCT 128 dãy đầu dò để đối chiếu hình ảnh mạch máu trên người sống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết kinh điển và chuẩn mực quốc tế trong phẫu thuật tạo hình vi phẫu:
- Khái niệm Angiosomes của Taylor (1987): mỗi động mạch nguồn cấp máu cho một đơn vị giải phẫu 3 chiều gồm da, tổ chức dưới da, cân, cơ và xương.
- Phân loại mạch nuôi da của Cormack - Lamberty (1984) và Nakajima (1986).
- Danh pháp chuẩn hóa theo Đồng thuận Gent (2001) và Đồng thuận Tokyo về vạt cánh quạt.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp thực nghiệm giải phẫu và chẩn đoán hình ảnh.
| Nhóm đối tượng |
Số lượng mẫu |
Phương pháp thực hiện |
Mục tiêu khảo sát |
| Tử thi ngâm formalin |
41 xác (62 phẫu tích vạt cơ bụng chân, 56 phẫu tích vạt gối xuống) |
Phẫu tích giải phẫu từng lớp, bộc lộ mạch nguồn, nhánh xuyên, thần kinh và tĩnh mạch |
Xác định nguyên ủy, đường kính, chiều dài cuống mạch, số lượng và tọa độ các nhánh xuyên |
| Tử thi tươi đông lạnh |
7 xác (10 tiêu bản ĐM cơ bụng chân trong, 10 tiêu bản ĐM ngoài, 14 tiêu bản ĐM gối xuống) |
Rã đông, luồn catheter vào lòng mạch, bơm dung dịch mực màu chuyên dụng |
Xác định diện tích, hình thái và ranh giới vùng da cấp máu thực tế |
| Người sống |
14 người trưởng thành (24 phim chụp) |
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (MSCT 128 dãy) có tiêm thuốc cản quang |
Khảo sát nguyên ủy, đường đi, khẩu kính và biến đổi giải phẫu của ĐM gối xuống và ĐM hiển |
Dụng cụ và kỹ thuật thu thập, xử lý số liệu
- Dụng cụ phẫu tích và đo đạc:
- Bộ dụng cụ phẫu tích mạch máu vi phẫu (kẹp phẫu tích có mấu/không mấu, kéo vi phẫu, kìm Kelly, kìm Allis, que thăm dò sonde).
- Thước thẳng kim loại 150 mm (độ chia 1 mm), thước kẹp điện tử 300 mm (độ chính xác 0,05 mm), thước đo vi lượng Palmer.
- Bơm tiêm chuyên dụng, kim luồn catheter, dung dịch chất màu (xanh methylen, mực dầu xanh, latex).
- Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh:
- Máy chụp cắt lớp vi tính Hitachi Scenaria 128 dãy đầu dò.
- Thông số kỹ thuật: điện thế 120 kV, cường độ dòng tối đa 500 mA, thời gian quay 0,5 giây/vòng, độ dày lát cắt tái tạo 0,06 mm, bước nhảy 0,5 mm, ma trận hình ảnh 1024 x 1024.
- Thuốc cản quang: Xenetix nồng độ 300 mg I/ml.
- Kỹ thuật Bolus tracking: kích hoạt chụp tự động sau 10 giây kể từ khi thuốc đạt nồng độ đỉnh tại động mạch khoeo. Vùng quét từ 20 cm trên đường khớp gối đến 10 cm dưới đường khớp gối theo hướng đầu - chân trong thời gian 15 - 17 giây.
- Phần mềm xử lý trạm làm việc (workstation): phần mềm giảm xảo ảnh Boost 3D, chương trình tái tạo FC03, tái tạo đa hướng (MPR), quan sát mạch máu theo tỷ trọng tối đa (MIP), dựng hình thể tích 3D (VRT).
- Xử lý số liệu hình thái:
- Số hóa hình ảnh chụp vùng da nhuộm màu trên xác tươi, đưa vào phần mềm AutoCAD (phiên bản 2019) để đo đạc diện tích bề mặt cấp máu thực nghiệm ($cm^2$), xác định khoảng cách tới các mốc xương và nếp lằn tự nhiên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 tổng thuật các cơ sở lý luận về hệ mạch máu nuôi da, quá trình phát triển từ vạt ngẫu nhiên đến vạt mạch xuyên. Tác giả phân tích giải phẫu và bệnh học liên quan của ba loại vạt:
- Vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân trong (MSAP): đặc điểm cuống mạch, số lượng nhánh xuyên cơ da, vị trí xuất phát từ các nhánh trong cơ, cung xoay của vạt dạng đảo và dạng vạt tự do trong che phủ khuyết hổng chi thể và khoang miệng.
- Vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân ngoài (LSAP): liên quan giải phẫu với đầu ngoài cơ bụng chân, thần kinh mác chung, thần kinh bì bắp chân ngoài và tính biến đổi của nhánh xuyên.
- Vạt mạch xuyên động mạch gối xuống (DGAP) / Vạt hiển Acland: cấu trúc ống cơ khép, mạc rộng khép, đường đi của nhánh hiển dưới cơ may, các nhánh da gần (nhánh trước, nhánh sau cơ may) và hệ thống dẫn lưu tĩnh mạch (tĩnh mạch hiển lớn và tĩnh mạch sâu tùy hành).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu thực nghiệm và chẩn đoán hình ảnh:
- Kỹ thuật phẫu tích mặt sau cẳng chân: tư thế tử thi nằm sấp, xác định nếp gấp khoeo, đường giữa sau cẳng chân nối từ điểm giữa nếp khoeo đến giữa củ gót. Rạch da hình chữ I hoặc T, bộc lộ mạc nông, ghi nhận các nhánh xuyên có đường kính $\ge 0,5\text{ mm}$ đi qua cân cơ bụng chân vào da. Dùng kim xuyên định vị các điểm mạch ra ngoài da, đánh dấu và đo khoảng cách 2 chiều (khoảng cách dưới nếp khoeo và khoảng cách tới đường giữa cẳng chân). Phẫu tích ngược dòng trong cơ bộc lộ các nhánh trong cơ đến thân động mạch nguồn.
- Kỹ thuật phẫu tích vùng đùi trong - gối: tư thế tử thi nằm ngửa, bộc lộ bờ trước và sau cơ may, mở trần ống cơ khép (mạc rộng khép), bộc lộ động mạch gối xuống, tách nhánh cơ - khớp và nhánh hiển, xác định các nhánh xuyên da gần đi qua bờ cơ may.
- Quy trình thực nghiệm bơm màu xác tươi: cô lập mạch máu đích, luồn kim bơm mực màu, quan sát và ghi nhận ranh giới vùng nhuộm màu da, chụp ảnh vuông góc kèm thước tỷ lệ chuẩn, đo đạc diện tích trên phần mềm AutoCAD.
- Quy trình chụp và xử lý hình ảnh MSCT 128 dãy trên người sống: thiết lập thông số lát cắt mỏng, đo đạc khẩu kính động mạch gối xuống tại nguyên ủy, chiều dài cuống mạch và khoảng cách so với củ cơ khép lớn và đường khớp gối.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu được từ các nhóm mẫu:
| Cấu trúc mạch máu / Vạt |
Thông số giải phẫu khảo sát |
Kết quả đo đạc chính |
| Động mạch cơ bụng chân trong (MSAP) |
Nguyên ủy động mạch nguồn Đường kính ĐM tại nguyên ủy Chiều dài đoạn ngoài cơ Số lượng nhánh xuyên cơ da Vị trí nhánh xuyên so với nếp khoeo Khoảng cách so với đường giữa bắp chân Tĩnh mạch tùy hành Vùng da cấp máu thực nghiệm (AutoCAD) |
Tách trực tiếp từ ĐM khoeo hoặc thân chung ở mức khe khớp gối Khẩu kính từ 1,9 - 3,0 mm Trung bình 2,8 - 4,2 cm Dao động 1 - 5 nhánh/tiêu bản (trung bình > 2 nhánh) Tập trung ở vùng cách dưới nếp khoeo 5 - 18 cm (nhánh chính thứ nhất ở khoảng 8 - 12 cm) Tập trung cách phía trong đường giữa 0,5 - 4,5 cm (chủ yếu 1 - 3 cm) Thường có 2 TM tùy hành (đường kính 2,2 - 3,5 mm) Bao phủ diện tích hình bầu dục ở 2/3 trên mặt trong sau cẳng chân |
| Động mạch cơ bụng chân ngoài (LSAP) |
Nguyên ủy động mạch nguồn Đường kính ĐM tại nguyên ủy Tần suất có nhánh xuyên Vị trí phân bố nhánh xuyên Thần kinh cảm giác đi kèm |
Tách từ ĐM khoeo hoặc thân chung cơ bụng chân Khẩu kính xấp xỉ 2,0 - 3,0 mm Nhánh xuyên kém hằng định hơn bên trong, có tỷ lệ tiêu bản không có nhánh xuyên Nằm ở nửa dưới đầu ngoài cơ, cách nếp khoeo 6 - 16 cm, cách ngoài đường giữa bắp chân Thần kinh bì bắp chân ngoài chi phối cảm giác 2/3 trên ngoài bắp chân |
| Động mạch gối xuống & ĐM hiển (DGAP) |
Nguyên ủy ĐM gối xuống Đường kính ĐM gối xuống Phân nhánh của ĐM gối xuống Đường đi ĐM hiển Nhánh da gần của ĐM hiển Hệ thống tĩnh mạch Thần kinh cảm giác Đặc điểm trên phim MSCT 128 dãy |
Tách từ mặt trong ĐM đùi, cách khe khớp gối khoảng 10 - 15 cm trên lỗ gân cơ khép Đường kính ngoài tại nguyên ủy 1,5 - 2,0 mm; chiều dài thân 0,5 - 2,0 cm Tách nhánh cơ - khớp (vào cơ rộng trong, lồi cầu xương đùi) và nhánh hiển Xuyên qua mạc rộng khép, chạy dưới cơ may trong khoang mô liên kết dài 12 - 15 cm Cho 1 - 4 nhánh da gần chạy qua bờ trước hoặc bờ sau cơ may cấp máu da trên trong gối Gồm hệ sâu (2 TM tùy hành) và hệ nông (TM hiển lớn, đường kính 3 - 4 mm) Thần kinh hiển và nhánh bì đùi trong Hiện hình rõ nét trên 24 phim chụp, xác định chính xác nguyên ủy và liên quan với củ cơ khép lớn |
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện giải phẫu với y văn quốc tế và trong nước:
- Vạt MSAP: Tác giả phân tích sự phân nhánh của động mạch cơ bụng chân trong thành nhánh trong và nhánh ngoài chạy dọc trong cơ, tương ứng với hai hàng nhánh xuyên cơ da nông (phù hợp với mô tả của Wong 2012 và Otani 2012). Nhánh xuyên chính thứ nhất có vị trí xuất hiện tương đối hằng định ở khoảng 1/3 trên cẳng chân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết kế vạt có cuống dài từ 11 - 15 cm.
- Vạt LSAP: Phân tích nguyên nhân vạt LSAP ít được sử dụng hơn MSAP do tỷ lệ tiêu bản có nhánh xuyên thấp hơn và đường đi của nhánh xuyên qua đầu ngoài cơ bụng chân có tính biến đổi cao. Tuy nhiên, khi có nhánh xuyên đủ lớn, vạt LSAP là chất liệu thay thế hữu ích để che phủ mặt ngoài gối và 1/3 trên ngoài cẳng chân nhờ khả năng lấy kèm thần kinh bì bắp chân ngoài tạo vạt có cảm giác.
- Vạt DGAP / Vạt hiển: Bàn luận về tính đa dạng của các nhánh da gần xuất phát từ động mạch hiển. Việc bộc lộ bờ cơ may và phẫu tích xuyên mạc rộng khép là bước kỹ thuật trọng tâm để lấy được vạt an toàn. Cuống mạch động mạch gối xuống có thể được phẫu tích kéo dài đến tận động mạch đùi, cung cấp cuống mạch có đường kính lớn phù hợp cho nối vi phẫu.
- Đề xuất quy trình ứng dụng vạt trong ngoại khoa:
- Ứng dụng vạt cơ bụng chân: Sử dụng dạng cuống liền hình đảo hoặc cánh quạt để che phủ khuyết hổng quanh khớp gối và 1/3 trên cẳng chân; sử dụng dạng vạt tự do cho khuyết hổng bàn tay, bàn chân và tái tạo khoang miệng (lưỡi, sàn miệng) nhờ ưu điểm vạt mỏng, mềm, không làm mất chức năng gập cẳng chân của cơ bụng chân.
- Ứng dụng vạt gối xuống: Sử dụng dạng vạt cân da tự do hoặc vạt chùm xương - da (lấy kèm một phần xương lồi cầu trong xương đùi dựa trên nhánh cơ - khớp) trong tái tạo các tổn khuyết phức tạp có mất đoạn xương.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp bộ số liệu giải phẫu học định lượng đầy đủ, có hệ thống đầu tiên trên cơ thể người Việt Nam về hệ thống nhánh xuyên của động mạch cơ bụng chân ngoài và động mạch gối xuống/động mạch hiển.
- Xác lập bản đồ phân bố vị trí, số lượng, khẩu kính và chiều dài cuống mạch của các nhánh xuyên động mạch cơ bụng chân trong và ngoài dựa trên các mốc giải phẫu bề mặt chuẩn (nếp lằn khoeo, đường giữa sau cẳng chân).
- Chứng minh tính ứng dụng của học thuyết Angiosomes trên các vùng da mặt sau cẳng chân và mặt trong đùi - gối thông qua thực nghiệm bơm màu và đo đạc số hóa bằng phần mềm AutoCAD.
- Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ngoại khoa:
- Xác định vùng an toàn trên lâm sàng để tìm kiếm nhánh xuyên chính của động mạch cơ bụng chân trong (khoảng 8 - 12 cm dưới nếp khoeo, cách đường giữa bắp chân 1 - 3 cm vào trong) và nhánh da gần của động mạch hiển (dọc bờ trước và sau cơ may ở 1/3 dưới đùi).
- Đưa ra khuyến cáo kỹ thuật bóc tách vạt: giữ lại các tĩnh mạch nông dưới da (như tĩnh mạch hiển lớn hoặc hiển bé) để đảm bảo dẫn lưu tĩnh mạch an toàn, tránh ứ trệ tuần hoàn vạt; phẫu tích cuống mạch tới gần nguyên ủy để hạn chế sự chênh lệch khẩu kính khi nối vi phẫu tại vùng nhận.
- Ứng dụng thành công kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (MSCT 128 dãy) trong việc đánh giá hình thái, nguyên ủy và nhánh bên của động mạch gối xuống trước mổ trên người sống, cung cấp công cụ chẩn đoán hình ảnh hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật cá thể hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu tập trung vào mô tả hình thái giải phẫu học tĩnh trên thi thể tử thi (ngâm formalin và tươi đông lạnh) kết hợp hình ảnh học MSCT, chưa tiến hành đo đạc trực tiếp các thông số huyết động học vi mạch (vận tốc dòng chảy, áp lực tưới máu mao mạch) trong điều kiện phẫu thuật thực tế trên người bệnh.
- Số lượng mẫu xác tươi đông lạnh thực hiện bơm màu và số lượng bệnh nhân chụp MSCT còn ở mức độ vừa phải do hạn chế về nguồn tiêu bản giải phẫu và chỉ định chuyên môn.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai các nghiên cứu can thiệp lâm sàng áp dụng vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân ngoài (LSAP) và vạt mạch xuyên động mạch gối xuống (DGAP) trên các chuỗi bệnh nhân khuyết hổng phần mềm cụ thể.
- Xây dựng quy trình thường quy kết hợp siêu âm Doppler màu và chụp MSCT mạch máu trước mổ để lập bản đồ định vị nhánh xuyên trên từng bệnh nhân.
- Mở rộng nghiên cứu dạng vạt chùm xương - da động mạch gối xuống (osteocutaneous flap) ứng dụng trong tái tạo khuyết hổng mất đoạn xương kèm phần mềm ở vùng hàm mặt và chi thể.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Phẫu thuật viên Tạo hình - Tái tạo và Chấn thương Chỉnh hình: Tham khảo trực tiếp bản đồ tọa độ nhánh xuyên, kỹ thuật phẫu tích bộc lộ cuống mạch và các khuyến cáo thiết kế vạt cuống liền/tự do để che phủ các tổn khuyết phần mềm từ đơn giản đến phức tạp ở chi dưới, chi trên và vùng đầu mặt cổ.
- Phẫu thuật viên Tai Mũi Họng và Răng Hàm Mặt: Ứng dụng các thông số về độ dày vạt da, khẩu kính mạch và chiều dài cuống của vạt MSAP trong phẫu thuật tái tạo lưỡi, sàn miệng và niêm mạc má sau phẫu thuật ung thư biểu mô.
- Giảng viên và Nghiên cứu sinh chuyên ngành Giải phẫu học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, đối chiếu số liệu nhân trắc giải phẫu hệ mạch máu chi dưới của người Việt Nam với các chủng tộc khác trên thế giới.
- Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo quy trình chụp, thông số kỹ thuật lát cắt và kỹ thuật tái tạo hình ảnh 3D hệ mạch máu ngoại vi trên máy chụp MSCT 128 dãy đầu dò.
Câu hỏi thường gặp
1. Vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân trong (MSAP) có ưu điểm giải phẫu nào nổi bật so với vạt da - cơ bụng chân truyền thống?
Vạt MSAP lấy hoàn toàn dựa trên nhánh xuyên cơ da tách từ động mạch cơ bụng chân trong, cho phép lấy tổ chức da và mỡ mỏng mà không cần cắt bỏ khối cơ bụng chân bên dưới, bảo tồn nguyên vẹn chức năng vận động của cẳng chân và thần kinh chày, đồng thời tạo được cuống mạch dài từ 11 - 18 cm nhờ phẫu tích xuyên qua cơ.
2. Vị trí giải phẫu của các nhánh xuyên động mạch cơ bụng chân trong thường tập trung ở khu vực nào?
Các nhánh xuyên cơ da của động mạch cơ bụng chân trong tập trung chủ yếu ở 2/3 trên mặt sau trong cẳng chân, nằm trong phạm vi cách dưới nếp lằn khoeo từ 5 đến 18 cm và cách phía trong đường giữa sau bắp chân từ 0,5 đến 4,5 cm (đa số tập trung ở khoảng cách 1 - 3 cm). Nhánh xuyên chính thứ nhất thường xuất hiện cách dưới nếp khoeo khoảng 8 - 12 cm.
3. Động mạch gối xuống và động mạch hiển có đặc điểm đường đi và liên quan giải phẫu như thế nào?
Động mạch gối xuống tách ra từ mặt trong động mạch đùi ở vị trí khoảng 10 - 15 cm phía trên khe khớp gối (ngay trước lỗ gân cơ khép). Sau đó, động mạch chia nhánh cơ - khớp và nhánh hiển. Nhánh hiển xuyên qua mạc rộng khép rồi chạy thẳng xuống dưới trong khoang mô liên kết nằm dưới cơ may (giữa cơ may, gân cơ khép lớn và cơ rộng trong) trên đoạn dài 12 - 15 cm, cho các nhánh da gần lướt qua bờ trước hoặc bờ sau cơ may để cấp máu cho vùng da trên trong khớp gối.
4. Nghiên cứu đã sử dụng những phương tiện và công cụ kỹ thuật nào để định lượng diện tích cấp máu và cấu trúc mạch máu?
Nghiên cứu đã phối hợp các phương tiện: phẫu tích trực tiếp trên 41 xác ngâm formalin (đo đạc bằng thước kẹp điện tử sai số 0,05 mm và thước panme); thực nghiệm bơm chất màu trên 7 xác tươi đông lạnh và tính toán diện tích tưới máu da thông qua phần mềm đồ họa AutoCAD 2019; khảo sát hình thái mạch máu trên người sống bằng máy chụp cắt lớp vi tính MSCT Hitachi Scenaria 128 dãy đầu dò với phần mềm dựng hình 3D (VRT) và tỷ trọng tối đa (MIP).
5. Điểm khác biệt cơ bản giữa vạt nhánh xuyên động mạch cơ bụng chân ngoài (LSAP) và vạt trong (MSAP) là gì?
Động mạch cơ bụng chân ngoài có sự hiện diện của nhánh xuyên kém hằng định hơn nhiều so với động mạch cơ bụng chân trong (tỷ lệ vắng mặt nhánh xuyên theo y văn có thể lên tới 57%). Tuy nhiên, vạt LSAP có ưu thế khi cần lấy kèm nhánh cảm giác của thần kinh bì bắp chân ngoài để tạo vạt có cảm giác tự thân che phủ các tổn khuyết mặt ngoài khớp gối.
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu hình thái giải phẫu toàn diện về hệ thống vạt mạch xuyên động mạch cơ bụng chân trong, động mạch cơ bụng chân ngoài và động mạch gối xuống/động mạch hiển trên cơ thể người Việt Nam kết hợp đối chiếu hình ảnh học MSCT 128 dãy trên người sống. Các kết quả định lượng về nguyên ủy, đường kính mạch, số lượng, tọa độ nhánh xuyên và diện tích tưới máu thực nghiệm cung cấp cơ sở giải phẫu chuẩn xác cho việc thiết kế và bóc tách vạt. Đây là nguồn dữ liệu khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, giúp các phẫu thuật viên lựa chọn kỹ thuật tạo hình tối ưu nhằm che phủ tổn khuyết mô mềm phức tạp, hạn chế tối đa di chứng tại nơi cho vạt và nâng cao chất lượng điều trị.