ĐẶT VẤN ĐỀ Thoái hóa khớp (THK) là bệnh mạn tính do thoái hóa các thành phần trong ổ khớp và thay đổi bệnh lý ở phần khoang khớp (xuơng dưới sụn, màng hoạt dịch, sụn khớp). Thoái hóa khớp thường gây ra những cơn đau cấp hoặc đau kéo dài làm hạn chế vận động, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày[3]. Ở người cao tuổi, các bệnh về xương khớp rất hay gặp, trong đó có thoái hóa khớp gối. Thoái hóa khớp gối ở người cao tuổi ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống, tăng gánh nặng kinh tế gia đình nên việc phòng ngừa và chăm sóc điều trị ở giai đoạn sớm rất quan trọng [4].
Theo một điều tra đa quốc gia, hơn 80% người trên 55 tuổi có biểu hiện thoái hoá khớp trên phim chụp xquang, số người có triệu chứng hạn chế vận động, tổn thương khớp gối là 54,9% [47]. Theo nghiên cứu tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh cho thấy THK rất phổ biến, gặp trong khoảng 20% dân số độ tuổi 40 -50, có tới 50% dân số độ tuổi bắt đầu từ 40 trở lên có hình ảnh THK trên phim xquang, nhưng chỉ một nửa trong số này có triệu chứng lâm sàng ở khớp, trong đó 75% là ở khớp gối [15]. Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng hàng năm khám và điều trị bệnh cho người dân trên địa bàn tỉnh, trong đó đối tượng người cao tuổi chiếm tỷ lệ khá cao, với tình trạng nhiều bệnh mạn tính đi kèm và thoái hóa khớp gối là một trong những bệnh lý thường gặp ở các đối tượng này. Khi các khớp xương bị đau, người cao tuổi sẽ có tâm lý ngại vận động hoặc sợ vận động và có xu hướng ít hoặc không tập luyện khiến cơn đau thêm trầm trọng.
Vì thế vai trò của chăm sóc thoái hoá khớp gối ở người cao tuổi rất quan trọng. Ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và một số biện pháp điều trị bệnh thoái hoá khớp gối, nhưng đánh giá thực trạng chăm sóc bệnh thoái hoá khớp gối và các vấn đề liên quan đến kết quả chăm sóc thoái hoá khớp còn ít 2 được quan tâm. Để góp phần tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tiến hành đề tài: ”Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh cao tuổi bị thoái hoá khớp gối và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng năm 2020-2021” với 02 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người bệnh cao tuổi thoái hóa khớp gối tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng.
Phân tích kết quả chăm sóc người bệnh cao tuổi thoái hóa khớp gối và một số yếu tố liên quan. Thang Long University Library 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu và sinh lý khớp gối 1. Giải phẫu khớp gối Khớp gối là một trong những khớp lớn nhất và phức tạp trên cơ thể.
Khớp gối nối xương đùi (xương đùi) với xương ống chân (xương chày). Xương nhỏ hơn chạy cùng với xương chày (xương mác) và xương bánh chè (xương bánh chè) là những xương khác tạo nên khớp gối. Gân kết nối xương đầu gối với cơ chân vận động khớp gối. Các dây chằng tham gia vào xương đầu gối và tạo sự ổn định cho khớp gối: - Dây chằng chéo trước ngăn không cho xương đùi trượt ra sau trên xương chày (hoặc xương chày trượt ra trước trên xương đùi).
- Dây chằng chéo sau ngăn không cho xương đùi trượt ra trước trên xương chày (hoặc xương chày trượt ra sau trên xương đùi). - Các dây chằng chéo giữa và dây chằng bên ngăn không cho xương đùi trượt từ bên này sang bên kia. Hai miếng sụn hình chữ C được gọi là sụn chêm giữa và sụn bên đóng vai trò giảm xóc giữa xương đùi và xương chày. Nhiều bao, hoặc túi chứa đầy chất lỏng, giúp khớp gối cử động trơn tru [40].
Sụn chêm trong và ngoài Sụn chêm là miếng sụn sợi nằm ở diện khớp trên xương chày. Mục đích của sụn chêm là làm cho diện khớp thêm sâu rộng và trơn láng hơn. Có thể thấy,sụn chêm trong có hình chữ C, trong khi đó, sụn chêm ngoài gần có hình chữ O. Hai sụn chêm nối nhau bởi dây chằng ngang gối và dính vào xương chày bởi các dây chằng.
Do đó các sụn chêm dễ dàng di chuyển khi khớp cử động. Sụn chêm trượt ra trước khi gối duỗi, trong khi đó sụn chêm sẽ trượt ra sau khi gối gấp. Mặt trên của sụn chêm không phẳng như mặt dưới mà lõm để tiếp xúc với lồi cầu xương đùi. Sụn chêm dễ bị tổn thương trong sinh hoạt hàng ngày.
Có thể trong động tác duỗi gối quá mạnh khi cẳng chân đang ở tư thế xoay ngoài hay xoay trong. 4 Sụn chêm có ít mạch máu nuôi nên khi tổn thương nó khó hồi phục. Trong một số trường hợp, sụn chêm trở thành một vật chèn không cho khớp gối hoạt động. Giải phẫu khớp gối Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, Nhà xuất bản Y học (2012) [19] Bao hoạt dịch Ở vùng gối, bao hoạt dịch khá phức tạp.
Chúng lót bên trong bao khớp, bám vào sụn chêm. Các dây chằn chéo đều nằm ngoài bao hoạt dịch. Động tác của vùng gối Gối là một trong những khớp quan trọng nhất và lớn nhất của cơ thể. Khớp gối đóng một vai trò thiết yếu trong chuyển động sống hàng ngày, như ngồi, đứng, chạy, đi bộ, nhảy.
Động tác chủ yếu của khớp gối là gấp và duỗi. Tuy nhiên khi cẳng chân gấp, khớp có thể làm động tác dạng, khép, xoáy ngoài và xoay trong rất ít. Tầm vận động bình thường ở khớp gối ở tư thế gối gấp là 130° đến 145° và quá duỗi là 1° đến 2°[19]. Sinh lý khớp gối Khi đi bình thường khớp gối chịu sức nặng gấp 3- 4 lần trọng lượng cơ thể, khi gập gối mạnh khớp gối chịu lực gấp 9 - 10 lần trọng lượng cơ thể.
Chức năng chính Thang Long University Library 5 của khớp gối là chịu sức nặng của cơ thể ở tư thế thế thẳng và quy định sự chuyển động của cẳng chân. Động tác của khớp gối rất linh hoạt, trong đó động tác chủ yếu là gấp và duỗi [2]. Thoái hoá khớp gối 1. Định nghĩa bệnh thoái hoá khớp Thoái hóa khớp gối là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa sự tổng hợp và hủy hoại của sụn và xương dưới sụn.
sự mất cân bằng này có thể được bắt đầu bằng nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hóa và chấn thương, biểu hiện cuối cùng của thoái hóa khớp là các thay đổi hình thái, sinh hóa, phân tử và cơ sinh học của tế bào và các chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hóa, nứt loét và mất sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn. bệnh thường gặp ở nữ giới, chiếm 80% trường hợp thoái hóa khớp gối [9], [14]. Hình ảnh khớp gối bình thường và bị thoái hóa 1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của thoái hoá khớp gối 1.
Nguyên nhân: - Sự lão hoá: Là nguyên nhân chính của thoái khớp nguyên phát, xuất hiện muộn thường ở người lớn tuổi (> 60), nhiều vị trí, tiến triển chậm, không nặng. Tế bào sụn già dần, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysacharid giảm và rối loạn, chất lượng sụn kém dần, tính chịu lực và đàn hồi giảm. 6 - Yếu tố cơ giới: Chủ yếu gây thoái khớp thứ phát, thường gặp ở người trẻ (<40 tuổi), khu trú một vài vị trí, nặng và tiến triển nhanh. Yếu tố này thể hiện bằng sự tăng bất thường lực nén trên mặt khớp, gọi là hiện tượng quá tải, gồm: + Tăng cân quá mức do béo phì, tăng trọng tải do nghề nghiệp.
+ Biến dạng khớp thứ phát sau chấn thương, viêm, u. + Dị tật bẩm sinh làm thay đổi diện tích nén của các mặt khớp. - Các yếu tố khác: + Di truyền: cơ địa già sớm. + Nội tiết: mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương do nội tiết [37], [38].
Cơ chế bệnh sinh - Cấu trúc khớp bình thường là sụn, xương dưới sụn, dịch khớp, màng hoạt dịch và bao khớp. Bộ phận chủ yếu của khớp là sụn khớp thích ứng hoàn hảo để chịu được tải trọng đảm bảo sự trượt lên nhau của hai diện xương với một hệ số ma sát rất thấp. Do ảnh hưởng của các vi gãy xương, suy yếu đám rối collagen dẫn đến việc thoái hóa các chất proteoglycan. Tế bào sụn bị cứng lại do tăng áp lực, tế bào giải phóng các enzyme tiêu protein, enzyme này làm hủy hoại dần dần các chất cơ bản.
- Quá trình viêm trong thoái hóa khớp gối: viêm với triệu chứng đau và giảm chức năng vận động, tăng số lượng tế bào trong dịch khớp với viêm màng hoạt dịch kín đáo. Có thể là phản ứng của màng hoạt dịch với các sản phẩm của thoái hóa sụn và các mảnh sụn hoặc xương bị bong ra. Cơ chế gây đau trong bệnh thoái hóa khớp gối Do sụn khớp không có hệ thần kinh nên đau có thể do các cơ chế sau: - Viêm màng hoạt dịch phản ứng - Xương dưới sụn tổn thương rạn nứt nhỏ gây kích thích phản ứng đau - Gai xương tại các vị trí tỳ đè gây kéo căng các đầu mút thần kinh ở màng xương - Dây chằng bị co kéo do trục khớp tổn thương, mất ổn định và bản thân tình trạng lão hóa của dây chằng gây giãn dây chằng. Đây chính là nguyên nhân gây mất ổn định trục khớp, lỏng lẻo khớp dẫn đến tình trạng THK trầm trọng hơn.
- Viêm bao khớp hoặc bao khớp bị căng phồng do phù nề quanh khớp - Các cơ bị co kéo, nguyên nhân tương tự tổn thương của dây chằng [23], [25], Thang Long University Library 7 [48], [49]. Phân loại: Theo nguyên nhân, người ta chia 2 loại 1. Thoái hóa khớp nguyên phát - Sự lão hóa: là nguyên nhân chính, bệnh xuất hiện muộn thường ở người sau 60 tuổi, tổn thương nhiều vị trí, tiến triển chậm và không nặng. - Yếu tố di truyền: những yếu tố như hàm lượng collagen và khả năng tổng hợp proteoglycan (PG) của sụn mang tính di truyền.
- Yếu tố nội tiết và chuyển hóa: mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương. Thoái hóa khớp thứ phát Đa phần là do nguyên nhân cơ giới. Những nguyên nhân này làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi (thường dưới 40 tuổi), tổn thương một hay vài vị trí, nặng và tiến triển nhanh.