MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trong nước Van dé già hóa dân số một cách nhanh chóng trên thế giới trong những năm qua đã đặt ra một loạt thách thức cho các quốc gia như: chuyền dịch gánh nặng bệnh tật, gia tăng chỉ tiêu cho y tế và các chăm sóc đài hạn, thiếu hụt lực lượng lao động, các vấn dé tiềm an về an ninh, thu nhập tuổi già. Việc tuổi thọ kéo dài, đặc biệt là tuổi thọ khỏe mạnh ngày càng dài hơn, là một lợi ích cho phúc lợi con người.
Nhưng, bên cạnh đó, thách thức đến từ thực tế, sắp xếp thể chế xã hội hiện tại chưa phù hợp với dân số già và thay đổi nhân khẩu học. Dẫn đến, nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn của già hóa dân só. Theo báo cáo của Phòng Dân số, Ban Kinh tế - Xã hội, Liên Hợp Quốc năm 2017: dân số thế giới đang già đi, hầu hết các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với sự gia tăng về số lượng và tỷ lệ người gia trong dân số. Già hóa dân sé tăng, đồng nghĩa với việc số lượng người cao tuổi (NCT) (được định nghĩa là người từ 60 tuổi trở lên) gia tăng.
Hiện nay, NCT chiếm một phan lớn trong tỷ lệ dan số các độ tuổi. Năm 2017, ước tính có khoảng 962 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 13% dan số toàn cầu. Tỷ lệ nay sẽ tăng nhanh trong những thập ky tới, biệt là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Đến năm 2050, cứ năm người sẽ có một người từ 60 tuổi trở lên", Báo cáo toàn câu về già hóa và sức khỏe khỏe năm 2015 xác định mục tiêu của già hóa khỏe mạnh là giúp NCT người xây dựng và duy trì sức khỏe, duy trì khả năng hoạt động, từ đó có được sự thoải mái trong cuộc sống của NCT.
Duy trì sức khỏe NCT là một vấn đề đầu tư lớn vào con người, vào xã hội và hỗ trợ các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (SDGs)?. Việc chăm sóc cho lớp dân số già đang ngày càng tăng đã tạo ra những thách thức cho hệ thống y tế, đặc biệt là các nước đang và chưa phát triển. Nguồn lực dành cho việc chăm sóc sức khỏe NCT là vấn đề lớn, đáng lưu tâm. Cần có sự thay đổi trong việc đưa ra các định ' Người cao tuôi và sức khỏe tại Việt Nam (2021) ? Các mục tiêu phát triển bền vững, [trang web], Liên Hợp quốc.
hướng về y té công cộng, đặc biệt về chăm sóc sức khỏe toàn diện, để mang lại cho NCT một cuộc sống phù hợp nhất có thể. Xu hướng toàn cầu về già hóa được xác nhận bởi những thay đổi cấu trúc nhân khẩu học thường xuyên ở một số nước châu Á như Nhật Bản, Singapore và Việt Nam (Hình 1). Trong khi Nhật Bản chuyền sang giai đoạn dân số già từ năm 1970 và đang phải đối mặt với tình trạng dân số siêu già từ năm 2010, Singapore đã ở giai đoạn già hóa cao vào năm 2020 và Việt Nam đang ở giai đoạn già hóa và sẽ trở thành quốc gia già hóa cao sau năm 20353. Việt Nam Singapore Nhật Bản.
Tinh trang dan số ở Việt Nam, Singapore và Nhật Ban, 1950 - 2045 (Nguén: UNDESA, Phong dan số (2019) Tại Việt Nam, số lượng NCT đã tăng nhanh va sẽ tiếp tục tăng trong những thập kỷ tới. Năm 2017 tỉ lệ NCT ở Việt Nam là 11% (khoảng 10,6 triệu người) và dự kiến sẽ là 17,5% vào năm 2030 (khoảng 18,6 triệu người) và 28% vào năm 2050 (Khoảng 32 triệu người) (Hình 2)*. * Người cao tuổi và sức khỏe tại Việt Nam (2021) * Người cao tuổi và sức khỏe tại Việt Nam (2021) 120,000 = 100,000 E 2 = 80,000 80+ = E 60-79 *8 60,000 15-59 ° a mO-14 40,000 20,000 iL] 0 1950 2017 2030 2050 Hinh 2. Dén sé Việt Nam theo các nhóm tuổi (Nguôn: Phòng Dân số, Ban Kinh tế - Xã hội Liên Hợp Quốc, 2017) Già hóa dân số và việc chăm sóc về thé chat, tinh thần, nhằm đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc trong cuộc sống của NCT là những thách thức rất lớn đối với gia đình, xã hội và chính phủ Việt Nam.
Chăm sóc sức khỏe NCT trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang là vấn đề nhận được sự quan tâm từ nhiều phía, từ gia đình, xã hội, từ các bộ ban ngành, Chính phủ và Quốc Hội. Hiện nay, trong van đề chăm sóc sức khỏe NCT ở Việt Nam, đã có nhiều văn bản, quy định, chương trình, dự án, công trình của nhà nước, của tư nhân đề cập đến vấn đề này. Các luật pháp, hiến pháp, chính sách của nhà nước về NCT Các công trình nghiên cứu của tổ chức, cá nhân về NCT: Các công trình được đề cập dưới các góc độ sau: Đề cập đưới góc độ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội; Đề cập dưới góc độ xây dựng, kiến trúc; Đề cập dưới góc độ văn hóa, nghệ thuật; 1. Các luật pháp, hiến pháp, chính cách của nhà nước về NCT Việt Nam đã có các khung pháp lý, quy định của Chính phủ, của cơ quan nhà nước, các Bộ, ban ngành nhằm đảm bảo quyền và phúc lợi xã hội của NCT: Chỉ thị số 59-CT/TW, ngày 17/9/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về chăm sóc NCT; Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chi thị 117/CP “Về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người Cao tuổi Việt Nam”.
Chỉ thị khẳng định: Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tỉnh thần của NCT là đao lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân; Quyết định số 121/1998/QĐ-TTg ngày 09/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ủy ban năm Quốc tế Người cao tuổi Việt Nam; Chỉ thị số 34/ 1998/ CT-TTg ngày 30/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức hoạt động năm Quốc tế Người cao tuổi; Pháp lệnh số 23/2000/PL-UBTVQHI0 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về Người cao tuôi; Nghị định số 30/2002/NĐCP ngày 26/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi; Quyết định só 141/2004/QĐ-TTg, ngày 05/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam; Chính phủ Việt Nam (2008), Nghị định về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo duc, dạy nghề, y tế, văn hóa, thé thao, môi trường. Số 69/ND-CP, ngày 30/5/2008. Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 được Quốc Hội ban hành năm 2009; Bộ Y tế Việt Nam (2011), Hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi. Thông tư số 35/2011/TT-BYT; Chính phủ Việt Nam (2011), Nghị định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người cao tudi, số 06/2011/NĐ-CP, ngày 14/1/2011.
Chính phủ Việt Nam (2015), Nghị định về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, số 100/NĐ-CP, ngày 20/10/2015. Bộ Xây dựng (2017), Dự án Thiết kế điển hình nhà ở xã hội và trung tâm dưỡng lão Chính phủ Việt Nam (2017), Nghị định quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, số 103/2017/NĐ-CP, ngày 12/9/2017. Bộ Y tế Việt Nam (2018), Thành lập khoa Lão và chăm sóc sức khỏe cho. người cao tuổi.
Công văn s6 2248/BYT-KCB. Chính phủ Việt Nam (2021), Nghị định về quy định chỉ tiết một số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng, thi công xây dựng công trình và bảo trì công trình xây dựng, số 06/2021/NĐ-CP, ngày 26/1/2021. Chính phủ Việt Nam (2021), Nghị định về quy định chỉ tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng, số 15/2021/NĐ-CP, ngày 3/3/2021. Chính phủ Việt Nam (2021), Nghị định về chính sách trợ giúp xã hội các đối tượng bảo trợ xã hội, số 20/2021/NĐ-CP, ngày 15/3/2021.
Thủ tướng Chính phủ đã thông qua Kế hoạch hành động Quốc gia cho Người cao tuổi 2012-2020 tại Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 12/11/2017. Mục tiêu của chương trình nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc NCT; thúc đẩy xã hội hóa các hoạt động chăm sóc và vai trò của NCT phù hợp với tiềm năng và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thủ tướng Chính phủ (2017), phê duyệt chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030, ngày 29/12/2017. Với các Hiến pháp, Luật Người cao tuổi và các văn bản pháp luật liên quan đến NCT trên đây, nhóm nghiên cứu cho rằng đây là cơ sở pháp lý quan trọng, cụ thé hóa quan điểm, đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng, nha nước về chăm sóc, phát huy vai trò NCT; là căn cứ dé các cấp chính quyền, các ngành, các cáp day mạnh công tác chăm sóc NCT trong giai đoạn hiện nay.
Đồng thời, đó là những văn bản quy phạm pháp luật để nhóm nghiên cứu lấy làm cơ sở trong quá trình phân tích, nhận định các vấn đề nghiên cứu của đề tài. Công trình nghiên cứu của tổ chức, cá nhân về chăm sóc NCT Bên cạnh các quy định, các văn bản luật của Nhà nước, Chính phủ, Bộ ban ngành ban hành về vấn đề NCT ở Việt Nam, còn có nhiều công trình khoa học của các tổ chức, cá nhân đã công bố liên quan trực tiếp, gián tiếp đến cuộc sống, tâm lý, an sinh xã hội và việc chăm sóc sức khỏe NCT ở Việt Nam. Những nghiên cứu này đề cập dưới các góc độ sau: 1. Dưới góc độ an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe NCT Tác giả Nguyễn Phương Lan (2000) gián tiếp đề cập đến khía cạnh xã hội NCT ở nghiên cứu “Tiếp cận văn hóa người cao tuổi”.
Theo tác giả này, NCT chuyền đổi từ môi trường hoạt động tích cực sang môi trường nghĩ ngợi hoàn toàn. Cùng với thời gian rảnh rỗi nhiều là sức khỏe ngày càng kém đi đã khiến cho họ rơi vào trạng thái tâm lý cô lập với thế giới xung quanh, đòi hỏi cần có nhu cầu giao tiếp mãnh liệt. Tổng cục dân số và kế hoạch hóa gia đình (2005-2006), Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng. Nghiên cứu đã tìm hiểu thực trạng NCT ở Việt Nam và các mô hình chăm sóc NCT, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước.
Đây là nguồn dữ li quan trọng, giúp nhóm nghiên cứu có cơ sở trong quá trình nhận định, đánh giá và phân tích các vấn đề về NCT ở Việt Nam.