Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu ngã và các yếu tố nguy cơ ở người bệnh cao tuổi

Luận án tiến sĩ phân tích nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây ngã ở người bệnh cao tuổi, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

221
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Người cao tuổi và sự lão hóa

2.1.1. Định nghĩa và phân loại người cao tuổi

2.1.2. Tình hình già hóa dân số hiện nay

2.1.3. Đặc điểm của quá trình lão hóa

2.1.4. Ảnh hưởng của quá trình lão hóa đến ngã

2.2. Tổng quan về ngã

2.2.1. Khái niệm ngã

2.2.2. Cơ chế bệnh sinh của ngã

2.2.3. Tỷ lệ ngã ở người cao tuổi

2.2.4. Các yếu tố nguy cơ ngã

2.2.4.1. Một số yếu tố nguy cơ ngã ở bệnh nhân ngoại trú cao tuổi

2.2.5. Đánh giá nguy cơ ngã ở người cao tuổi

2.2.6. Các biến cố bất lợi sau ngã

2.2.7. Dự phòng ngã

2.2.8. Các nghiên cứu liên quan đến ngã

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

3.3. Tiêu chuẩn loại trừ

3.4. Thiết kế nghiên cứu

3.5. Phương pháp chọn mẫu

3.6. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.7. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

3.8. Cách thức thu thập thông tin cho từng mục tiêu nghiên cứu

3.9. Các bước tiến hành để thu thập thông tin

3.10. Các biến số nghiên cứu

3.11. Các đặc điểm nhân khẩu học

3.12. Đặc điểm về chỉ số khối cơ thể, chức năng vận động và giữ thăng bằng

3.13. Các bệnh lý mắc kèm

3.14. Các hội chứng lão khoa và tình trạng sợ ngã

3.15. Vấn đề sử dụng thuốc và uống rượu

3.16. Đặc điểm ngã và các biến cố bất lợi của ngã

3.17. Quy trình nghiên cứu

3.18. Phân tích và xử lý số liệu

3.19. Quản lý dữ liệu

3.20. Mô tả đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu và xác định tỷ lệ ngã hiện mắc ở người bệnh cao tuổi

3.21. Xác định tỷ lệ ngã mới trong 12 tháng theo dõi và các yếu tố nguy cơ ngã trên người bệnh cao tuổi

3.22. Mô tả đặc điểm ngã và các biến cố bất lợi của ngã ở người bệnh cao tuổi trong 12 tháng theo dõi

3.23. Khống chế sai số

3.24. Khía cạnh đạo đức của đề tài

4. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

5. TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

A.1. DANH MỤC BẢNG

A.2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ

A.3. DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Lão hóa là một quá trình tự nhiên không thể đảo ngược, dẫn đến sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh và suy giảm chức năng. Ngã là một trong những hội chứng lão khoa phổ biến, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ngã được định nghĩa là tình trạng người bệnh vô tình rơi xuống mặt đất, không bao gồm các thay đổi tư thế chủ động. Tỷ lệ ngã ở người cao tuổi rất cao, với 30-40% người trên 65 tuổi bị ngã hàng năm. Nguyên nhân ngã thường do sự tương tác của nhiều yếu tố nguy cơ nội tại và môi trường. Việc tìm hiểu các yếu tố nguy cơ này là cần thiết để xây dựng các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu tỷ lệ ngã và các biến cố bất lợi sau ngã.

1.1. Tình Hình Già Hóa Dân Số

Già hóa dân số là hiện tượng toàn cầu, với tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng. Việt Nam đang đối mặt với tình trạng này, với tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 11% dân số vào năm 2017. Dự báo đến năm 2050, con số này sẽ tiếp tục gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho hệ thống chăm sóc sức khỏe. Sự gia tăng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn tạo gánh nặng cho toàn xã hội. Các nghiên cứu cho thấy rằng người cao tuổi có bệnh đồng mắc có nguy cơ bị chấn thương nghiêm trọng hơn khi bị ngã, do đó, việc hiểu rõ các yếu tố nguy cơ là rất quan trọng.

II. Tổng Quan Tài Liệu

Tổng quan tài liệu về ngã ở người cao tuổi cho thấy rằng ngã không chỉ là một vấn đề sức khỏe mà còn là một thách thức lớn đối với hệ thống y tế. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ ngã tăng lên đáng kể khi có sự hiện diện của nhiều yếu tố nguy cơ. Các yếu tố này bao gồm tình trạng sức khỏe, chức năng vận động, và việc sử dụng thuốc. Việc đánh giá nguy cơ ngã là cần thiết để phát triển các biện pháp can thiệp phù hợp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiều trường hợp ngã có thể phòng ngừa được thông qua các biện pháp can thiệp hợp lý.

2.1. Các Yếu Tố Nguy Cơ Ngã

Các yếu tố nguy cơ ngã ở người cao tuổi rất đa dạng, bao gồm cả yếu tố nội tại như sức khỏe tổng quát, chức năng vận động, và yếu tố môi trường như điều kiện sống. Nghiên cứu cho thấy rằng người cao tuổi có bệnh lý đồng mắc thường có nguy cơ ngã cao hơn. Việc sử dụng thuốc cũng là một yếu tố quan trọng, vì nhiều loại thuốc có thể làm tăng nguy cơ ngã. Do đó, việc đánh giá và quản lý các yếu tố nguy cơ này là rất cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ ngã và các biến cố bất lợi liên quan.

III. Đối Tượng và Phương Pháp Nghiên Cứu

Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương, với đối tượng là người cao tuổi khám và điều trị ngoại trú. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân bao gồm những người từ 60 tuổi trở lên, có thể tham gia vào nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập thông tin qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp. Các biến số nghiên cứu bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng sức khỏe, và các yếu tố nguy cơ ngã. Phân tích số liệu sẽ giúp xác định tỷ lệ ngã hiện mắc và các yếu tố nguy cơ liên quan.

3.1. Quy Trình Nghiên Cứu

Quy trình nghiên cứu bao gồm các bước thu thập thông tin, phân tích và xử lý số liệu. Đầu tiên, thông tin về đối tượng nghiên cứu sẽ được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn. Sau đó, số liệu sẽ được phân tích để xác định tỷ lệ ngã hiện mắc và các yếu tố nguy cơ. Việc quản lý dữ liệu và khống chế sai số cũng sẽ được thực hiện để đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu tỷ lệ ngã ở người cao tuổi.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Người cao tuổi và sự lão hóa 1. Định nghĩa và phân loại người cao tuổi Theo Tổ chức Y Tế thế giới (WHO), khái niệm người cao tuổi được định nghĩa là những người đến độ tuổi có các thay đổi về vai trò xã hội và các chức năng sinh học, ở mức 60 hoặc 65 tuổi tùy theo Châu lục. Hiện tại, do sự khác nhau về môi trường sống, các điều kiện kinh tế xã hội và y tế dẫn đến sự không đồng nhất về sức khỏe theo cùng độ tuổi giữa các khu vực khác nhau nên chưa có một tiêu chuẩn thống nhất về khái niệm người cao tuổi cho các quốc gia.

Ở hầu hết các nước phương Tây, từ 65 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi hay “người già”. Tuy nhiên, với nhiều nước đang phát triển và chưa phát triển thì mốc tuổi này không phù hợp, tuổi 50 được chấp thuận là định nghĩa người cao tuổi cho mục đích của dự án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi của WHO ở Châu Phi [15]. Việc phân loại các nhóm tuổi trong đối tượng cao tuổi cũng chỉ mang tính tương đối vì không thể phản ánh hết được sự thay đổi trong quá trình sinh học ở cơ thể. Người cao tuổi được chia thành 3 nhóm: nhóm rất già (đại lão) từ 80 tuổi trở lên, nhóm trung bình (trung lão) từ 70 đến 79 tuổi, nhóm các cụ còn năng động (sơ lão) tuổi từ 60 đến 69 [17, 18].

Tình hình già hóa dân số hiện nay Già hóa dân số là hiện tượng toàn cầu, hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới đều có sự tăng trưởng về tỷ lệ người cao tuổi trong dân số chung [19, 20]. Nếu như năm 1990 tỷ lệ người cao tuổi trong cộng đồng mới chỉ ở mức 6% thì tới năm 2019 toàn thế giới đã có 703 triệu người từ 65 tuổi trở lên, chiếm 9% dân số [20]. Dự kiến đến năm 2050 con số này có thể tăng lên tới 16%, tương đương với 1,5 tỷ người cao tuổi trên toàn cầu, hay cứ 6 người trên thế giới đang sống có một người cao tuổi [21]. Tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh nhất ở Đông Nam Á, Châu Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê.

Ở Đông Nam Á, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng gần gấp đôi từ 6% năm 1990 đến 11% vào năm 2019 [22]. Trong khi ở Châu Mỹ Latinh và Ca-ri-bê tỷ lệ này tăng từ 5% đến 9% trong 19 năm qua [22]. Từ năm 2019 đến năm 2050, tỷ lệ người cao tuổi dự kiến ít nhất sẽ tăng gấp đôi ở 4 khu vực: Bắc Phi, Trung và Nam Á, Mỹ Latinh và Ca-ri-bê, Đông Nam Á; trong khi đó ở châu Âu, tỷ lệ người cao tuổi dự kiến sẽ giảm [21]. Việt Nam đang là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới, tuổi thọ trung bình tăng từ 68,6 tuổi năm 1999 lên tới 73,2 tuổi năm 2014 và dự kiến sẽ tăng tới 78 tuổi vào năm 2030 [9].

Năm 2017, cả nước có khoảng 10,6 triệu người tuổi từ 60 trở lên, chiếm 11% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên [23]. Đặc điểm của quá trình lão hóa Lão hóa được được định nghĩa là sự suy giảm về thể chất và chức năng của các cơ quan trong cơ thể tuần tự theo thời gian, được đặc trưng bởi tình trạng dễ bị tổn thương, tăng tính nhạy cảm với bệnh tật và điều kiện môi trường bất lợi [24]. Các thay đổi về lão hóa xảy ra ở tất cả các tế bào, mô và cơ quan của cơ thể, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn bộ các hệ thống trong cơ thể. Các cơ quan lão hóa từ từ mất chức năng, hầu hết các cơ quan bắt đầu bị mất 1% chức năng mỗi năm bắt đầu từ tuổi 30 [25].

Tuy nhiên, hiện tượng lão hóa ở mỗi người không giống nhau. Ngay trong một cơ thể, sự thay đổi ở 5 cơ quan này không giúp tiên đoán được sự lão hóa của cơ quan khác (ví dụ một người có thể bị đục thủy tinh thể nhưng tim vẫn hoạt động hoàn hảo). Một người có thể già chậm so với người ít tuổi hơn, một người 50 tuổi sống lành mạnh có thể có thể chất của một người 40 tuổi, trong khi một người khác cùng tuổi nhưng hút thuốc, uống nhiều rượu bia và có lối sống tĩnh tại có thể có chức năng các cơ quan của người già hơn vài chục tuổi. Môi trường sống và các vấn đề xã hội đóng góp không nhỏ vào tiến trình của lão hóa.

Người cao tuổi dễ bị tổn thương khi thời tiết quá lạnh hoặc quá nóng do họ không thể điều chỉnh thân nhiệt một cách có hiệu quả. Sự suy giảm chức năng của các cơ quan khiến người cao tuổi dễ mắc bệnh [26]. Nhiễm khuẩn và bệnh tật ở người trẻ tuổi không hẳn nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể là nguyên nhân gây tử vong cho người cao tuổi. Do vậy, người cao tuổi cần được quan tâm đặc biệt để làm giảm hậu quả không mong muốn của quá trình lão hóa.

Các yếu tố chính quyết định tình trạng sức khỏe người cao tuổi [27] 6 1. Ảnh hưởng của quá trình lão hóa đến ngã Hiệu quả của hệ thống sinh lý để kiểm soát tư thế suy giảm dần chức năng theo tuổi. Sự ổn định và cân bằng tư thế được duy trì bằng cách phối hợp đồng điệu việc điều chỉnh các cơ quan cảm giác, thị giác và tiền đình; sự phối hợp này có xu hướng bất ổn dần khi lão hóa, gây ra ngã ở người cao tuổi. Ở người già, tốc độ xử lý phản xạ chậm hơn tốc độ xử lý của trung tâm dẫn đến khó khăn trong việc phối hợp các phản xạ một cách tự nhiên, có một sự liên quan chặt chẽ giữa ổn định tư thế, dáng đi và ngã [28].

Khi già đi, tầm nhìn cũng bị suy giảm ảnh hưởng đến khả năng đối phó với chướng ngại của môi trường, dẫn đến mất thăng bằng và ngã [28]. Hệ thống tiền đình cũng bị ảnh hưởng bởi lão hóa, chóng mặt thường gặp ở người cao tuổi và là yếu tố dự báo nguy cơ ngã [29]. Các bệnh lý phổ biến ở người cao tuổi như Parkinson, suy giảm nhận thức… cũng có thể làm tăng nguy cơ ngã [29]. Ngã tăng theo tuổi, gần một phần ba người từ 60 tuổi trở lên bị ngã và trên 50% những người 80 - 85 tuổi bị ngã ít nhất 1 lần trong năm.

Tỷ lệ và mức độ chấn thương sau ngã cũng tăng lên khi tuổi càng cao, các chấn thương liên quan đến ngã ở tuổi 80 đã trở thành vấn đề đáng báo động. Tần suất mắc một số chấn thương liên quan đến ngã như gãy xương và chấn thương tủy sống đã tăng đáng kể trong 3 thập kỷ gần đây [30]. Nếu các phương pháp dự phòng ngã đúng đắn không được nhanh chóng đưa ra và thực hiện thì số các chấn thương liên quan đến ngã dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 [30]. Tổng quan về ngã 1.

Khái niệm ngã Ngã được định nghĩa là tình trạng người bệnh vô tình bị rơi xuống mặt đất, sàn nhà hoặc các mặt phẳng khác thấp hơn, không bao gồm các thay đổi tư thế một cách chủ động như ngả người xuống các đồ vật hoặc dựa lưng vào tường hoặc các vật dụng khác [6]. Như vậy, ngã không phải là hậu quả của một 7 hành động có chủ ý, không phải nguyên nhân do ngất hay bệnh cảnh cấp cứu như đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim, cũng không do tác động trực tiếp của môi trường xung quanh. Nói cách khác, nếu một người thay đổi tư thế từ nằm hoặc ngồi sang tư thế đứng, hoặc đang đi bộ và vô tình bị rơi xuống mặt đất hoặc mặt phẳng thấp hơn được cho là bị ngã. Khác với việc họ đang đi bị xe đâm vào ngã hoặc ngã do động đất.

Ngã được xem là một trong các hội chứng lão khoa, được cấp mã bệnh từ E880 đến E888 trong ICD-9 (International Classification of Disease-9) và W00 đến W19 trong ICD-10 [6]. Trước đây, ngã không được xem là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng vì người ta cho rằng đó là một hiện tượng bình thường của quá trình lão hóa. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về ngã ở người cao tuổi đã cho thấy ngã có liên quan đến bệnh tật và tử vong [31]. Ngã tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe của người cao tuổi và đang trở thành mối quan tâm toàn cầu.

Cơ chế bệnh sinh của ngã Các nhân tố thiết yếu quyết định cho một bước đi bình thường bao gồm: mạng lưới thần kinh tinh vi như vòng dây chằng của vỏ não và hệ thống hạch, các cấu trúc cơ xương tinh tế với cơ bắp được điều chỉnh hợp lý và xử lý đúng các thông tin cảm quan (vỏ não, thị giác, thính giác, xúc giác và sự nhận cảm trong cơ thể). Sự phối hợp hiệu quả của các thành phần này, cùng với kỹ năng nhận biết và tập trung đầy đủ là cần thiết để ngăn ngừa ngã và duy trì sự đi lại. Ngã xảy ra là do rối loạn các nhân tố quyết định lối đi bình thường [32]. Các thay đổi về sinh lý ở người cao tuổi như: tổ chức liên kết mất tính mềm mại, giảm khối cơ, rối loạn cảm giác sâu, dẫn truyền thần kinh chậm lại dẫn đến tình trạng hạn chế hoạt động của các khớp và cơ lực, giảm sức mạnh chi dưới, kéo dài thời gian phản ứng, kèm theo giảm thị lực làm cho người 8 cao tuổi bước đi chậm hơn, bước chân ngắn hơn để giữ thăng bằng [33].

Những thay đổi này đặc biệt thấy rõ khi họ bước đi trên các bề mặt không bằng phẳng [34]. Cụ thể, khả năng duy trì tư thế thẳng đứng phụ thuộc vào đầu mút cảm giác của nhiều hệ thống, bao gồm hệ thống tiền đình và hệ thống nhận cảm của cơ thể. Sự suy giảm chức năng của các cơ quan này gây ra do các thay đổi liên quan đến lão hóa trong hệ thần kinh trung ương, như mất tế bào thần kinh và suy giảm chất dẫn truyền thần kinh dopamine trong hạch nền, gây mất kiểm soát tư thế [35]. Hệ thống tiền đình bị ảnh hưởng do mất các tế bào lông của mê đạo, tế bào hạch nền và các sợi thần kinh; trong khi cảm giác bản thể bị mất xảy ra ở chi dưới dẫn đến tăng nguy cơ bị ngã [36].

Cấu tạo và kích hoạt cơ ở người cao tuổi có nhiều thay đổi so với khi họ còn trẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ngã và yếu tố nguy cơ ở người cao tuổi" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề ngã ở người cao tuổi, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chấn thương và giảm chất lượng cuộc sống trong nhóm tuổi này. Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố nguy cơ như sức khỏe kém, môi trường sống không an toàn và các bệnh lý đi kèm, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời để giảm thiểu rủi ro. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích về cách bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người cao tuổi, đồng thời nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến người cao tuổi, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi hiện nay qua khảo sát tại thành phố hà nội", nơi cung cấp thông tin về các dịch vụ hỗ trợ xã hội cho người cao tuổi. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại việt nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ phân tích các yếu tố tác động đến chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở việt nam" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về chi phí chăm sóc sức khỏe cho nhóm đối tượng này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến người cao tuổi và cách thức hỗ trợ họ trong cuộc sống hàng ngày.