Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Người cao tuổi và sự lão hóa 1. Định nghĩa và phân loại người cao tuổi Theo Tổ chức Y Tế thế giới (WHO), khái niệm người cao tuổi được định nghĩa là những người đến độ tuổi có các thay đổi về vai trò xã hội và các chức năng sinh học, ở mức 60 hoặc 65 tuổi tùy theo Châu lục. Hiện tại, do sự khác nhau về môi trường sống, các điều kiện kinh tế xã hội và y tế dẫn đến sự không đồng nhất về sức khỏe theo cùng độ tuổi giữa các khu vực khác nhau nên chưa có một tiêu chuẩn thống nhất về khái niệm người cao tuổi cho các quốc gia.
Ở hầu hết các nước phương Tây, từ 65 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi hay “người già”. Tuy nhiên, với nhiều nước đang phát triển và chưa phát triển thì mốc tuổi này không phù hợp, tuổi 50 được chấp thuận là định nghĩa người cao tuổi cho mục đích của dự án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi của WHO ở Châu Phi [15]. Việc phân loại các nhóm tuổi trong đối tượng cao tuổi cũng chỉ mang tính tương đối vì không thể phản ánh hết được sự thay đổi trong quá trình sinh học ở cơ thể. Người cao tuổi được chia thành 3 nhóm: nhóm rất già (đại lão) từ 80 tuổi trở lên, nhóm trung bình (trung lão) từ 70 đến 79 tuổi, nhóm các cụ còn năng động (sơ lão) tuổi từ 60 đến 69 [17, 18].
Tình hình già hóa dân số hiện nay Già hóa dân số là hiện tượng toàn cầu, hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới đều có sự tăng trưởng về tỷ lệ người cao tuổi trong dân số chung [19, 20]. Nếu như năm 1990 tỷ lệ người cao tuổi trong cộng đồng mới chỉ ở mức 6% thì tới năm 2019 toàn thế giới đã có 703 triệu người từ 65 tuổi trở lên, chiếm 9% dân số [20]. Dự kiến đến năm 2050 con số này có thể tăng lên tới 16%, tương đương với 1,5 tỷ người cao tuổi trên toàn cầu, hay cứ 6 người trên thế giới đang sống có một người cao tuổi [21]. Tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh nhất ở Đông Nam Á, Châu Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê.
Ở Đông Nam Á, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng gần gấp đôi từ 6% năm 1990 đến 11% vào năm 2019 [22]. Trong khi ở Châu Mỹ Latinh và Ca-ri-bê tỷ lệ này tăng từ 5% đến 9% trong 19 năm qua [22]. Từ năm 2019 đến năm 2050, tỷ lệ người cao tuổi dự kiến ít nhất sẽ tăng gấp đôi ở 4 khu vực: Bắc Phi, Trung và Nam Á, Mỹ Latinh và Ca-ri-bê, Đông Nam Á; trong khi đó ở châu Âu, tỷ lệ người cao tuổi dự kiến sẽ giảm [21]. Việt Nam đang là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới, tuổi thọ trung bình tăng từ 68,6 tuổi năm 1999 lên tới 73,2 tuổi năm 2014 và dự kiến sẽ tăng tới 78 tuổi vào năm 2030 [9].
Năm 2017, cả nước có khoảng 10,6 triệu người tuổi từ 60 trở lên, chiếm 11% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên [23]. Đặc điểm của quá trình lão hóa Lão hóa được được định nghĩa là sự suy giảm về thể chất và chức năng của các cơ quan trong cơ thể tuần tự theo thời gian, được đặc trưng bởi tình trạng dễ bị tổn thương, tăng tính nhạy cảm với bệnh tật và điều kiện môi trường bất lợi [24]. Các thay đổi về lão hóa xảy ra ở tất cả các tế bào, mô và cơ quan của cơ thể, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn bộ các hệ thống trong cơ thể. Các cơ quan lão hóa từ từ mất chức năng, hầu hết các cơ quan bắt đầu bị mất 1% chức năng mỗi năm bắt đầu từ tuổi 30 [25].
Tuy nhiên, hiện tượng lão hóa ở mỗi người không giống nhau. Ngay trong một cơ thể, sự thay đổi ở 5 cơ quan này không giúp tiên đoán được sự lão hóa của cơ quan khác (ví dụ một người có thể bị đục thủy tinh thể nhưng tim vẫn hoạt động hoàn hảo). Một người có thể già chậm so với người ít tuổi hơn, một người 50 tuổi sống lành mạnh có thể có thể chất của một người 40 tuổi, trong khi một người khác cùng tuổi nhưng hút thuốc, uống nhiều rượu bia và có lối sống tĩnh tại có thể có chức năng các cơ quan của người già hơn vài chục tuổi. Môi trường sống và các vấn đề xã hội đóng góp không nhỏ vào tiến trình của lão hóa.
Người cao tuổi dễ bị tổn thương khi thời tiết quá lạnh hoặc quá nóng do họ không thể điều chỉnh thân nhiệt một cách có hiệu quả. Sự suy giảm chức năng của các cơ quan khiến người cao tuổi dễ mắc bệnh [26]. Nhiễm khuẩn và bệnh tật ở người trẻ tuổi không hẳn nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể là nguyên nhân gây tử vong cho người cao tuổi. Do vậy, người cao tuổi cần được quan tâm đặc biệt để làm giảm hậu quả không mong muốn của quá trình lão hóa.
Các yếu tố chính quyết định tình trạng sức khỏe người cao tuổi [27] 6 1. Ảnh hưởng của quá trình lão hóa đến ngã Hiệu quả của hệ thống sinh lý để kiểm soát tư thế suy giảm dần chức năng theo tuổi. Sự ổn định và cân bằng tư thế được duy trì bằng cách phối hợp đồng điệu việc điều chỉnh các cơ quan cảm giác, thị giác và tiền đình; sự phối hợp này có xu hướng bất ổn dần khi lão hóa, gây ra ngã ở người cao tuổi. Ở người già, tốc độ xử lý phản xạ chậm hơn tốc độ xử lý của trung tâm dẫn đến khó khăn trong việc phối hợp các phản xạ một cách tự nhiên, có một sự liên quan chặt chẽ giữa ổn định tư thế, dáng đi và ngã [28].
Khi già đi, tầm nhìn cũng bị suy giảm ảnh hưởng đến khả năng đối phó với chướng ngại của môi trường, dẫn đến mất thăng bằng và ngã [28]. Hệ thống tiền đình cũng bị ảnh hưởng bởi lão hóa, chóng mặt thường gặp ở người cao tuổi và là yếu tố dự báo nguy cơ ngã [29]. Các bệnh lý phổ biến ở người cao tuổi như Parkinson, suy giảm nhận thức… cũng có thể làm tăng nguy cơ ngã [29]. Ngã tăng theo tuổi, gần một phần ba người từ 60 tuổi trở lên bị ngã và trên 50% những người 80 - 85 tuổi bị ngã ít nhất 1 lần trong năm.
Tỷ lệ và mức độ chấn thương sau ngã cũng tăng lên khi tuổi càng cao, các chấn thương liên quan đến ngã ở tuổi 80 đã trở thành vấn đề đáng báo động. Tần suất mắc một số chấn thương liên quan đến ngã như gãy xương và chấn thương tủy sống đã tăng đáng kể trong 3 thập kỷ gần đây [30]. Nếu các phương pháp dự phòng ngã đúng đắn không được nhanh chóng đưa ra và thực hiện thì số các chấn thương liên quan đến ngã dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 [30]. Tổng quan về ngã 1.
Khái niệm ngã Ngã được định nghĩa là tình trạng người bệnh vô tình bị rơi xuống mặt đất, sàn nhà hoặc các mặt phẳng khác thấp hơn, không bao gồm các thay đổi tư thế một cách chủ động như ngả người xuống các đồ vật hoặc dựa lưng vào tường hoặc các vật dụng khác [6]. Như vậy, ngã không phải là hậu quả của một 7 hành động có chủ ý, không phải nguyên nhân do ngất hay bệnh cảnh cấp cứu như đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim, cũng không do tác động trực tiếp của môi trường xung quanh. Nói cách khác, nếu một người thay đổi tư thế từ nằm hoặc ngồi sang tư thế đứng, hoặc đang đi bộ và vô tình bị rơi xuống mặt đất hoặc mặt phẳng thấp hơn được cho là bị ngã. Khác với việc họ đang đi bị xe đâm vào ngã hoặc ngã do động đất.
Ngã được xem là một trong các hội chứng lão khoa, được cấp mã bệnh từ E880 đến E888 trong ICD-9 (International Classification of Disease-9) và W00 đến W19 trong ICD-10 [6]. Trước đây, ngã không được xem là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng vì người ta cho rằng đó là một hiện tượng bình thường của quá trình lão hóa. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về ngã ở người cao tuổi đã cho thấy ngã có liên quan đến bệnh tật và tử vong [31]. Ngã tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe của người cao tuổi và đang trở thành mối quan tâm toàn cầu.
Cơ chế bệnh sinh của ngã Các nhân tố thiết yếu quyết định cho một bước đi bình thường bao gồm: mạng lưới thần kinh tinh vi như vòng dây chằng của vỏ não và hệ thống hạch, các cấu trúc cơ xương tinh tế với cơ bắp được điều chỉnh hợp lý và xử lý đúng các thông tin cảm quan (vỏ não, thị giác, thính giác, xúc giác và sự nhận cảm trong cơ thể). Sự phối hợp hiệu quả của các thành phần này, cùng với kỹ năng nhận biết và tập trung đầy đủ là cần thiết để ngăn ngừa ngã và duy trì sự đi lại. Ngã xảy ra là do rối loạn các nhân tố quyết định lối đi bình thường [32]. Các thay đổi về sinh lý ở người cao tuổi như: tổ chức liên kết mất tính mềm mại, giảm khối cơ, rối loạn cảm giác sâu, dẫn truyền thần kinh chậm lại dẫn đến tình trạng hạn chế hoạt động của các khớp và cơ lực, giảm sức mạnh chi dưới, kéo dài thời gian phản ứng, kèm theo giảm thị lực làm cho người 8 cao tuổi bước đi chậm hơn, bước chân ngắn hơn để giữ thăng bằng [33].
Những thay đổi này đặc biệt thấy rõ khi họ bước đi trên các bề mặt không bằng phẳng [34]. Cụ thể, khả năng duy trì tư thế thẳng đứng phụ thuộc vào đầu mút cảm giác của nhiều hệ thống, bao gồm hệ thống tiền đình và hệ thống nhận cảm của cơ thể. Sự suy giảm chức năng của các cơ quan này gây ra do các thay đổi liên quan đến lão hóa trong hệ thần kinh trung ương, như mất tế bào thần kinh và suy giảm chất dẫn truyền thần kinh dopamine trong hạch nền, gây mất kiểm soát tư thế [35]. Hệ thống tiền đình bị ảnh hưởng do mất các tế bào lông của mê đạo, tế bào hạch nền và các sợi thần kinh; trong khi cảm giác bản thể bị mất xảy ra ở chi dưới dẫn đến tăng nguy cơ bị ngã [36].
Cấu tạo và kích hoạt cơ ở người cao tuổi có nhiều thay đổi so với khi họ còn trẻ.