CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU I. Đặc điểm cấu tạo tổ chức học răng Răng có cấu trúc giống như xương cứng được cắm chặt vào các huyệt ổ răng của xương hàm, gồm có hai phần: thân răng và chân răng. Giữa chân răng và thân răng là đường cổ răng (cổ răng giải phẫu), là một đường cong, còn gọi là đường nối men-xê măng. Thân răng được bao bọc bởi men răng, chân răng được xê măng bao phủ.
Cấu tạo chính của răng gồm 2 phần: Mô cứng (men răng, ngà răng) và mô mềm (tủy răng). Men răng Men răng có nguồn gốc ngoại bì. Men răng cũng là tổ chức cứng nhất của cơ thể, chứa nhiều muối vô cơ chiếm tỷ lệ 95% so với ngà và xương răng [12] Về mặt lý học: Men răng phủ toàn bộ thân răng, dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5 mm và ở vùng cổ răng men răng mỏng dần và ở tận cùng bằng một cạnh góc nhọn. Về mặt hóa học: Các chất vô cơ chủ yếu là hỗn hợp photpho canxi dưới dạng Apatit, đó là Hydroxyapatit [(PO4)2Ca3](OH)2 chiếm khoảng 90-95%.
Còn lại là các muối cacbonat của Mg và một lượng nhỏ clorua, fluorua và sunfat của natri và kali.Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1%.Trong đó có protit chiếm một phần quan trọng. Cấu trúc tổ chức học: Quan sát trên kính hiển vi thấy 2 loại đường vân: + Đường Retzius: Trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường ranh giới men ngà ở phía trong. Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường Retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như mặt ngoài của men thành một góc nhọn. Đường Retzius tương ứng với giai đoạn ngấm vôi kém trong quá trình tạo men + Đường trụ men: Trụ men là đơn vị cơ bản tạo nên lớp men.
Trụ men chạy suốt chiều dài men răng, từ đường ranh giới men ngà cho đến bề mặt của men răng. Hướng trụ men thẳng góc với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của trụ men. Sự đổi hướng đi của trụ men rõ ở vùng men gần lớp ngà, ở giữa lớp men sự đổi hướng giảm và chấm dứt ở 1/3 ngoài của men, từ đây trụ men chạy song song với nhau cho đến khi gặp mặt ngoài của răng theo góc vuông. Hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter – Schreger.
Trụ men có đường kính từ 3- 6m, khi cắt ngang trụ men thấy tiết diện của nó có các loại: Hình thể vẩy cá 57%, lăng trụ 30%, không rõ ràng 10%. Hình ảnh vi thể trụ men [12] - Cấu trúc siêu vi của men: Thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi và sắp xếp dọc theo trụ men, có vùng lại hợp với trụ men một góc 40 o. Thành phần vô cơ là các khối tinh thể to nhỏ không đều dài 1m, rộng 0,04-0,1m. Các tinh thể trong trụ men sắp xếp theo hình xương cá, đôi khi theo hình lốc.
Cấu tạo của các tinh thể là hydroxy apatit, chất giữa trụ men là các tinh thể giả Apatit (thay PO4 = (Ca3, Mg, CO3). Ngà răng Ngà răng là một tổ chức cứng thứ hai sau men răng, chiếm khối lượng chủ yếu ở thân răng. Trong điều kiện bình thường, ngà răng không bị lộ ra ngoài và được bao phủ bởi men răng ở thân răng và xương răng ở chân răng. Ngà răng là tổ chức kém rắn hơn men nhưng chun giãn hơn men.
Nó không giòn và dễ vỡ như men răng, cản quang kém hơn men răng [12]. Thành phần vô cơ của ngà chiếm 70% và chủ yếu là hydroxyapatit.Còn lại là nước và chất hữu cơ chiếm 30% chủ yếu là collagen. Cấu trúc tổ chức học: 2 loại. + Ngà tiên phát: Chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình thành răng.
Nó bao gồm ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tome. + Ngà thứ phát: Được sinh ra khi răng đã hình thành. Nó gồm ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt. Hình ảnh vi thể ngà răng [12] Ống ngà: Số lượng từ 15.000/mm2, đường kính 3 - 5m.
Tùy đường kính to hay nhỏ và đường đi của nó người ta chia ra làm 2 loại: 12 13 + Ống ngà chính: Chạy từ bề mặt tủy theo suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chột ở ranh giới men ngà. + Ống ngà phụ: Đường kính ống nhỏ hơn ống ngà chính. Là những nhánh bên hoặc nhánh tận của ống ngà chính. Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi và được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với ống ngà.
Dây Tome: Nằm trong ống ngà, là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào tạo ngà. Tủy răng Là tổ chức liên kết nằm trong hốc tủy răng và được thông với tổ chức liên kết quanh cuống răng bởi lỗ cuống răng (Apex). Hình thể của tủy răng tương ứng với hình thể ngoài của răng. Nó bao gồm tủy buồng và tủy chân [12].
Tổ chức học: Chia làm 2 vùng. + Vùng cạnh tủy: Là vùng mà dưới tác dụng cảm ứng của men một lớp tế bào của tổ chức tủy biệt hóa để trở thành lớp tế bào có khả năng tạo ngà gọi là tạo ngà bào. Bên cạnh đó là lớp không có tế bào bao gồm tổ chức sợi đặc biệt là những dây keo. + Vùng giữa tủy: Là tổ chức liên kết có nhiều tế bào và ít tổ chức sợi hơn so với tổ chức liên kết lỏng lẻo thông thường.
Thành phần tế bào bao gồm: Tế bào xơ non, xơ già và tổ chức bào. Thành phần sợi gồm những dây keo, chúng nối với nhau thành một mạng lưới.Ngoài ra trong tổ chức tủy có nhiều máu và bạch huyết. Định nghĩa Là do mô liên kết khoáng hoá tạo thành lớp màng bao bọc mặt ngà chân răng. Đặc điểm chung - Xê măng là thành phần khoáng hoá thấp nhất so với ngà và men răng nhưng vẫn cao hơn xương - Có tính thẩm thấu nên các chất lỏng xâm nhập được - Xê măng cấu tạo gồm 2 thành phần: Sợi và muối khoáng Muối khoáng: gồm Ca, P và Mg Nồng độ Fluor của xê măng cao hơn so với men răng và các mô cứng khác.
- Xê măng không có thần kinh và mạch máu. - Bình thường xê măng chỉ bao bọc ngà chân răng, nhưng trong một số trường hợp còn bao phủ men răng nên xê măng được phân loại: Xê măng chân răng và xê măng thân răng Chức năng: Là chỗ bám cho các dây chằng nha chu nối răng vào xương ổ. Đặc điểm mô học *Các tế bào tạo Xê măng (cementoplast) Có 3 loại tế bào tạo xê măng: - Nguyên bào xê măng - Xê măng bào 13 14 - Nguyên bào sợi. Cả ba loại này đều có nguồn gốc từ tế bào ngoại trung mô.
* Các loại xê măng: Dựa vào sự có hoặc không tế bào hoặc sợi để chia các loại xê măng khác nhau + Xê măng loại không sợi không có tế bào: Nó không có xê măng bào và không có sợi collagen. + Xê măng sợi ngoại sinh không có tế bào (xê măng nguyên phát). Loại này nằm ở vùng cổ răng và vùng giữa chân răng. Phủ trực tiếp lên bề mặt ngoài của ngà trên tất cả các răng.
Đặc biệt chân của các răng cửa. + Lớp xê măng này mỏng và trong suốt ngăn cách rõ rệt với ngà răng, gồm nhiều lớp song song với nhau và với bề mặt chân răng. Điều đó chứng tỏ xê măng được bồi đắp theo chu kỳ, rất chậm nhưng kéo dài cả đời người. + Xê măng sợi hỗn hợp có tế bào: Chứa xê măng bào và cả hai loại sợi ngoại sinh sharpey, nội sinh collagen.
Chúng là sản phẩm chính của nguyên bào xê măng và duy trì tạo xê măng của xê măng bào. Nằm ở chóp chân răng, 1/2 chân răng phía dưới và vùng chia chân răng. Khác với xê măng loại không tế bào, loại có tế bào gồm có các tế bào tạo xê măng lẫn vào trong xê măng sau khi hoàn thành tạo ra nó. Xê măng loại có tế bào cũng được hình thành từng lớp một, nhưng độ khoáng hoá ở các lớp có thể khác nhau.Sự khoáng hoá của xê măng sợi hỗn hợp nhanh hơn xê măng sợi ngoại sinh không có tế bào.
+ Xê măng sợi nội sinh có tế bào: Là sản phẩm đặc hiệu của nguyên bào xê măng. Nó gồm có xê măng bào và các sợi collagen nội sinh không có collagen ngoại sinh. Được tạo thành trong quá trình hàn gắn như: mòn ngót, sửa chữa các nứt gãy chân răng sau chấn thương. * Sợi Sharpey Là phần sợi chính ở hai đầu dính chặt vào xê măng hoặc xương ổ răng.
Sợi Sharpey là phần khoáng hoá của sợi chính nằm bên trong xê măng hoặc xương. Sự khoáng hoá của sợi Sharpey như sau: ngay từ lúc lớp xê măng đầu tiên được thành lập thì đã có những sợi chính bị mắc kẹt vào đấy. Dần dần, có nhiều sợi chính bị mắc kẹt hơn do hoạt động của các tế bào tạo xê măng. Các tế bào này sản xuất ra những sợi collagen làm thành một hệ thống bao quanh các sợi chính.
Tất cả đều nằm trong một chất căn bản là proteoglycan cũng do các tế bào tạo xê măng tổng hợp ra [19]. Sinh lý Xê măng không có quá trình tái tạo chỉ có sự bồi đắp, sự bồi đắp xê măng xảy ra liên tục suốt đời sau khi răng đã mọc chạm răng đối kháng trừ khi có bệnh lý. Trường hợp này góp phần cho quá trình mọc răng liên tục để bù lại sự mất chất của men răng do mòn vì lực nhai. Qua quá trình mọc răng phần chân răng nằm trong xương ổ giảm dần, do đó làm suy yếu sự giữ vững của chân răng.
Để bù đắp hiện tượng này xê 14 15 măng ở chân răng có sự bồi đắp liên tục ở bề mặt chân, phần lớn là ở vùng chóp răng hoặc vùng chia của răng nhiều chân. Người ta cho rằng sự hư hại hoặc rối loạn trong việc thành lập xê măng là 1 trong những nguyên nhân gây ra túi nha chu và nó không còn giới hạn được sự di chuyển của biểu mô bám dính về phía chóp răng (các nguyên nhân tại chỗ như cao răng, sang chấn, nhồi nhét thức ăn, vệ sinh răng miệng kém, lao, thiếu Vitamin A, D) Sự bồi đắp xê măng ở từng vị trí có liên quan đến tuổi như tuổi càng lớn sự bồi đắp xê măng ở vùng cổ chậm lại trong lúc ấy sự bồi đắp xê măng ở chóp lại tăng lên nhờ thế mà răng mọc, tốc độ bồi đắp chậm lại ở tuổi già [13],[14].