Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và tình trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm trên 65 tuổi

Khám phá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm trên 65 tuổi.

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

91
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về suy tim mạn

1.2. Sinh bệnh học suy tim

1.3. Chẩn đoán suy tim mạn

1.4. Tình hình dịch tễ suy tim mạn

1.5. Tình trạng tuân thủ điều trị

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim mạn tính có phân suất tống máu giảm

1.7. Ảnh hưởng của tuân thủ điều trị tới mức độ nặng của suy tim và tỷ lệ tử vong trên bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm

1.8. Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về tình trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim và kết quả của các nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu

2.6. Thiết kế nghiên cứu. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.7. Các biến số nghiên cứu

2.8. Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu

2.9. Sai số và khống chế sai số

2.10. Xử lý số liệu

2.11. Phương pháp đánh giá kết quả

2.12. Các tiêu chuẩn được sử dụng trong nghiên cứu

2.13. Các phương pháp thống kê áp dụng trong nghiên cứu

2.14. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của các nhóm đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở các nhóm đối tượng nghiên cứu

3.3. Tình trạng tuân thủ chế độ điều trị nội khoa và thay đổi lối sống ở các nhóm đối tượng nghiên cứu

3.4. Điều trị thuốc ở bệnh nhân suy tim mạn

3.5. Thực trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim mạn trên 65 tuổi

3.6. Các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị đối với bệnh nhân suy tim mạn

3.7. Ảnh hưởng của việc không tuân thủ điều trị đối với hiệu quả điều trị suy tim mạn có phân suất tống máu giảm

3.8. Tình trạng lâm sàng, cận lâm sàng ở nhóm bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm ≥ 65 tuổi

3.8.1. Các đặc điểm chung

3.8.2. Đặc điểm lâm sàng ở nhóm bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm

3.8.3. Đặc điểm cận lâm sàng ở nhóm bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm

3.9. Tình trạng tuân thủ điều trị về nội khoa và chế độ lối sống ở các bệnh nhân Suy tim có phân suất tống máu giảm ≥ 65 tuổi

3.10. Điều trị bằng thuốc ở các nhóm đối tượng nghiên cứu

3.11. Tình trạng tuân thủ điều trị ở các nhóm ĐTNC

3.12. Các nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị và ảnh hưởng của việc tuân thủ điều trị đối với hiệu quả điều trị ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm ≥ 65 tuổi

3.13. Thông tin về ĐTNC theo các mức độ tuân thủ điều trị

3.14. Các nguyên nhân và yếu tố gây ảnh hưởng đến tình trạng tuân thủ điều trị

3.15. Ảnh hưởng của việc tuân thủ điều trị đối với hiệu quả điều trị ở bệnh nhân Suy tim có phân suất tống máu giảm ≥ 65 tuổi

3.16. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở nhóm bệnh nhân Suy tim có phân suất tống máu giảm ≥ 65 tuổi

3.17. Thực trạng tuân thủ điều trị và các đặc điểm liên quan tới tình trạng tuân thủ điều trị ở các bệnh nhân Suy tim có phân suất tống máu giảm ≥ 65 tuổi

KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tình trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim trên 65 tuổi

Tình trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim trên 65 tuổi là một vấn đề quan trọng trong quản lý sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ tuân thủ điều trị ở nhóm bệnh nhân này thường thấp, với nhiều nguyên nhân khác nhau. Các yếu tố như tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng quát, và sự hỗ trợ từ gia đình có thể ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ. Theo một nghiên cứu, chỉ khoảng 50% bệnh nhân suy tim lớn tuổi tuân thủ đúng chế độ điều trị được khuyến cáo. Điều này dẫn đến việc gia tăng tỷ lệ nhập viện và tử vong. Việc không tuân thủ điều trị có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh lý, gây ra các biến chứng nghiêm trọng. Do đó, việc cải thiện tình trạng tuân thủ điều trị là cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Một số biện pháp như giáo dục bệnh nhân, hỗ trợ tâm lý, và cải thiện hệ thống chăm sóc y tế có thể giúp tăng cường tuân thủ điều trị.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tuân thủ điều trị

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim trên 65 tuổi. Các yếu tố kinh tế - xã hội, như thu nhập và trình độ học vấn, có thể tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và thuốc men. Bên cạnh đó, tình trạng sức khỏe tâm lý, như trầm cảm và lo âu, cũng có thể làm giảm khả năng tuân thủ. Một nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân cảm thấy cô đơn hoặc không có sự hỗ trợ từ gia đình thường có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn. Ngoài ra, sự phức tạp trong chế độ điều trị, bao gồm số lượng thuốc và lịch trình dùng thuốc, cũng có thể gây khó khăn cho bệnh nhân trong việc tuân thủ. Việc cải thiện sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng, cũng như đơn giản hóa chế độ điều trị, có thể giúp nâng cao tình trạng tuân thủ điều trị cho nhóm bệnh nhân này.

II. Đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân suy tim trên 65 tuổi

Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim trên 65 tuổi thường phản ánh tình trạng bệnh lý phức tạp. Các xét nghiệm như siêu âm tim, điện tâm đồ, và xét nghiệm máu là những công cụ quan trọng trong việc đánh giá chức năng tim và mức độ nặng của suy tim. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân lớn tuổi thường có phân suất tống máu giảm, điều này cho thấy chức năng tim bị suy giảm nghiêm trọng. Các chỉ số như BNP (peptid lợi niệu natri loại B) cũng thường cao hơn ở nhóm bệnh nhân này, cho thấy tình trạng ứ nước và áp lực trong tim. Việc theo dõi các chỉ số cận lâm sàng này là cần thiết để điều chỉnh phương pháp điều trị và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân. Ngoài ra, việc phát hiện sớm các biến chứng như loạn nhịp tim và suy thận cũng rất quan trọng trong quản lý bệnh nhân suy tim lớn tuổi.

2.2. Các chỉ số cận lâm sàng

Các chỉ số cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng suy tim ở bệnh nhân trên 65 tuổi. Siêu âm tim giúp xác định phân suất tống máu và chức năng thất trái, trong khi điện tâm đồ có thể phát hiện các rối loạn nhịp tim. Các xét nghiệm máu như BNP và NT-proBNP cung cấp thông tin về tình trạng ứ nước và áp lực trong tim. Việc theo dõi các chỉ số này thường xuyên là cần thiết để điều chỉnh phương pháp điều trị và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng việc phát hiện sớm các biến chứng có thể giúp giảm thiểu nguy cơ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân suy tim lớn tuổi.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về suy tim mạn 1. Khái niệm Theo Hiệp hội Trường môn tim mạch Hoa Kỳ (ACCF) và Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (AHA) định nghĩa năm 2013: “Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp là kết quả của bất kỳ rối loạn về chức năng và cấu trúc của tâm thất trong quá trình tiếp nhận máu và tống máu. Biểu hiện lâm sàng của suy tim là khó thở và mệt mỏi, có thể giới hạn khả năng vận động, giữ nước, sung huyết ở phổi và/hoặc nội tạng và/hoặc phù ngoại vi”. Năm 2015, Hội tim mạch Việt Nam đưa ra định nghĩa suy tim dựa theo ESC 2013: “Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp là hậu quả của những tổn thương thực thể hay rối loạn chức năng của tim dẫn đến tâm thất không đủ khả năng tiếp nhận máu (suy tim tâm trương) hoặc tống máu (suy tim tâm thu)’’.

Theo khuyến cáo ESC 2016: “Suy tim là một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi các triệu chứng điển hình (VD: khó thở, phù chân và mệt mỏi) mà có thể đi kèm với các dấu hiệu ( VD: tĩnh mạch cổ nổi, ran phổi và phù ngoại vi) gây ra bởi bất thường cấu trúc và/hoặc chức năng tim mạch, dẫn đến cung lượng tim giảm và/hoặc áp lực trong tim cao lúc nghỉ hoặc khi gắng sức/stress.” Theo khuyến cáo ESC 2021: “Suy tim không phải là một chẩn đoán bệnh lý đơn lẻ, mà là một hội chứng lâm sàng bao gồm các triệu chứng cơ bản (ví dụ như khó thở, sưng mắt cá chân và mệt mỏi) có thể đi kèm với các dấu hiệu (ví dụ: tăng áp lực tĩnh mạch, ran nổ phổi và phù ngoại vi). Đó là do sự bất thường về cấu trúc và / hoặc chức năng của tim dẫn đến áp lực buồng tim tăng cao và / hoặc cung lượng tim không đủ khi nghỉ ngơi và / hoặc khi tập thể dục. Việc xác định căn nguyên của rối loạn chức năng tim cơ bản là bắt buộc trong chẩn đoán suy tim vì với bệnh lý cụ thể có thể xác định phương pháp điều trị tiếp theo. Thông thường nhất, suy tim là do rối loạn chức năng cơ tim: tâm thu, tâm trương hoặc cả hai.

Tuy nhiên, bệnh lý của van, màng ngoài tim và nội tâm mạc, và những bất thường về nhịp tim và dẫn truyền cũng có thể gây ra hoặc góp phần vào suy tim”. Sinh bệnh học suy tim Suy tim xảy ra khi có tình trạng rối loạn chức năng cơ tim dẫn tới việc tim không tại đủ áp lực bình thường để bơm máu tới các cơ quan để thực hiện chuyển hóa trong cơ thể, đặc biệt là khi vận động thể lực và khi các cơ chế thích nghi của hệ 4 thần kinh nội tiết đã quá tải và không bù đắp được cho rối loạn huyết động. Bệnh nguyên của tình trạng suy tim bao gồm thiếu máu động mạch vành, tăng áp lực lòng mạch hoặc tăng thể tích tuần hoàn, bệnh cơ tim, và bệnh màng ngoài tim. Các bệnh lý động mạch vành, bệnh cơ tim giãn và tăng huyết áp là các nguyên nhân phổ biến nhất, bên cạnh đó một số thuốc cũng có thể khiến tình trạng chức năng cơ tim trở nên tồi tệ hơn.

Khi khả năng co bóp của cơ tim giảm sẽ dẫn đến tình trạng giảm thể tích nhát bóp và giảm cung lượng tim, khiến cho lưu lượng máu tới thận thay đổi. Điều này kích thích thận giữ lại nước để bù trừ cho việc giảm lưu lượng máu tới thận và giảm thể tích tuần hoàn. Việc giữ lại dịch trong cơ thể làm tăng tiền gánh và áp lực đổ đầy thất, khiến các triệu chứng của ứ huyết phổi bắt đầu xuất hiện. Việc giảm khả năng co bóp cơ tim cũng gây hạ huyết áp, gây kích hoạt các con đường thần kinh nội tiết gây co mạch, làm tăng hậu gánh và về lâu dài càng làm nặng nề hơn tình trạng giảm thể tích nhát bóp.

Do đó, bên cạnh việc chẩn đoán và điều trị suy tim, có thể phòng ngừa tình trạng suy tim bằng cách điều trị các yếu tố nguy cơ, cũng như là phân loại và theo dõi các nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao [12], [13]. Suy tim là một hội chứng phức tạp, đây là hậu quả của nhiều bệnh lý khác nhau như bệnh nội mạc tim (van tim), cơ tim, màng ngoài tim, loạn nhịp tim, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, bệnh tuyến giáp. Phần lớn nguyên nhân suy tim tại các nước tiên tiến là do bệnh mạch vành, tăng huyết áp và bệnh cơ tim dãn nở. Tại Việt Nam, từ những năm 1997 trở về trước bệnh van tim hậu thấp là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim, tuy nhiên hiện nay điều này đã thay đổi với sự dịch chuyển dần sang các bệnh không lây, tương tự các nước phát triển, bệnh van tim hậu thấp không còn được kể đến đầu tiên mà tăng huyết áp, bệnh mạch vành mới là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim [14].

Các bệnh lý gây ra sự thay đổi về cấu trúc hoặc chức năng của tâm thất có thể dẫn đến tình trạng suy tim. Ở các nước công nghiệp hóa, các bệnh lý mạch vành dần trở thành nguyên nhân hàng đầu gây suy tim ở cả nam giới và nữ giới, chiếm khoảng 60-75% số trường hợp suy tim. Tăng huyết áp góp phần vào sự hình thành suy tim ở 75% các trường hợp, bao gồm hầu hết các bệnh nhân có bệnh lý mạch vành. Cả hai trường hợp gồm bệnh lý mạch vành và tăng huyết áp đều tác động làm tăng nguy cơ dẫn đến suy tim, và bệnh lý Đái tháo đường cũng có tác động tương tự [2].

Trong 20-30% các trường hợp suy tim có phân suất tống máu giảm, thường không xác định được chính xác bệnh nguyên nền. Những bệnh nhân này thường được xem là suy tim do các bệnh lý không thiếu máu, bệnh cơ tim giãn hoặc bệnh cơ tim 5 không rõ nguyên nhân. Tiền sử nhiễm virus hoặc tiếp xúc với chất độc (ví dụ như rượu hoặc hóa trị liệu) cũng có thể gây nên tình trạng bệnh cơ tim giãn. Hơn nữa, một tỷ lệ lớn bệnh cơ tim giãn là do thứ phát do khiếm khuyết các gene đặc hiệu, gây ảnh hưởng đến khung xương tế bào.

Đột biến các gene mã hóa cho các protein cấu trúc nên khung xương tế bào (Desmin, Cardiac myosin, Vinculin) và các protein màng nhân (Laminin). Bệnh cơ tim giãn cũng liên quan đến các bệnh lý loạn dưỡng cơ Duchenne hoặc Becker. Các bệnh lý gây tăng cung lượng tim (ví dụ như thông động tĩnh mạch, thiếu máu) thường hiếm khi gây nên suy tim ở trạng thái cấu trúc tim bình thường, tuy nhiên nếu có bất thường cấu trúc tim thì các bệnh lý này có thể dẫn tới suy tim [2]. 1 Bệnh nguyên gây suy tim Nguyên nhân gây suy tim phân suất tống máu giảm ( < 40%) Bệnh mạch vành Nhồi máu cơ tim Thiếu máu cơ tim Tăng áp lực kéo dài Tăng huyết áp Hẹp van tim Tăng thể tích tâm thất kéo dài Hở van tim Bệnh tim bẩm sinh Bệnh phổi mạn tính Tâm phế mạn Bệnh van động mạch phổi Bệnh cơ tim giãn không thiếu máu Rối loạn về gene/ di truyền Rối loạn thâm nhiễm cơ tim Nhiễm độc/ Tổn thương do thuốc Virus Rối loạn chuyển hóa Nhiễm ký sinh trùng Bệnh Chagas Rối loạn nhịp Nhịp chậm kéo dài Nhịp nhanh kéo dài Nguyên nhân gây suy tim phân suất tống máu còn bù ( > 40% - 50%) Bệnh cơ tim phì đại Nguyên phát Thứ phát (do tăng huyết áp) Tuổi Các tổn thương nội tâm mạc Bệnh cơ tim hạn chế Thâm nhiễm cơ tim (thâm nhiễm tinh Rối loạn tích tụ (bệnh nhiễm sắc tố sắt 6 Xơ hóa Các rối loạn tăng thể tích tống máu Rối loạn chuyển hóa Nhiễm độc giáp Rối loạn dinh dưỡng Bệnh Beri Beri Các nhu cầu tăng lưu lượng máu Thiếu máu Shunt động tĩnh mạch hệ thống 1.

Hội tim mạch châu Âu (2021) đã đưa ra phân loại suy tim dựa trên phân suất tống máu, có giá trị thực hành cao và được áp dụng phổ biến hiện nay [15] Theo truyền thống, suy tim được chia thành các kiểu hình riêng biệt dựa trên phép đo phân suất tống máu thất trái (LVEF). Cơ sở lý do cho phân loại này liên quan đến các thử nghiệm điều trị ban đầu trong HF đã chứng minh kết quả cải thiện đáng kể ở những bệnh nhân có LVEF ≤ 40%. Tuy nhiên, biến thiên giá trị bình thường của LVEF và phép đo bằng siêu âm tim có thể thay đổi nhiều. Hội tim mạch châu Âu năm 2021 đã đưa ra phân loại suy tim dựa trên phân suất tống máu như sau: - LVEF giảm được định nghĩa là ≤ 40%, tức là những người có chức năng tâm thu thất trái giảm đáng kể.

Đây là nhóm bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm (STEF giảm). - Bệnh nhân LVEF từ 41% đến 49% bị giảm nhẹ chức năng tâm thu của thất trái, tức là suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ (STEF giảm nhẹ). Các phân tích hồi cứu RCT trên nhóm STEF giảm và STEF bảo tồn gồm bệnh nhân có EF từ 40-50% cho thấy lợi ích trên kết cục chính từ các phương pháp điều trị cho nhóm LVEF ≤ 40%. Điều này thúc đẩy đổi tên phân loại “suy tim phân suất tống máu trung gian” thành “suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ”.

- Bệnh nhân được phân loại là suy tim phân suất tống máu bảo tồn (STEF bảo tồn) khi có triệu chứng/dấu hiệu suy tim với LVEF ≥ 50%, kết hợp thêm bằng chứng bất thường cấu trúc/chức năng tim hoặc peptide lợi tiểu natri (NP) tăng cao. Bệnh nhân không mắc bệnh tim mạch như thiếu máu, bệnh phổi, thận, tuyến giáp, hoặc gan có thể có triệu chứng và dấu hiệu rất giống với suy tim. Nhưng khi bệnh nhân không có rối loạn chức năng tim kèm theo, tiêu chuẩn cho chẩn đoán suy tim là chưa đủ. Tuy nhiên, nhóm bệnh lý này có thể đồng mắc cùng suy tim và làm nặng thêm triệu chứng suy tim.

2 Định nghĩa suy tim phân suất tống máu giảm, giảm nhẹ và bảo tồn Thể suy Suy tim với phân Suy tim với phân Suy tim với phân tim suất tống máu thất suất tống máu thất suất tống máu thất trái giảm nhẹ trái giảm trái bảo tồn Tiêu 1 Triệu chứng cơ năng Triệu chứng cơ năng Triệu chứng cơ năng chuẩn và/hoặc thực tổn (a) và/hoặc thực tổn (a) và/hoặc thực tổn (a) 2 EF ≤ 40% EF 41 - 49% (b) EF ≥ 50% 3 Tăng peptide natri lợi niệu kết hợp với chỉ 1 tiêu chí dưới đây: - Hoặc bằng chứng khách quan bất thường cấu trúc/chức năng tim phù hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Tình trạng tuân thủ điều trị và đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân suy tim trên 65 tuổi" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cao tuổi mắc suy tim. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị mà còn làm nổi bật các đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân này. Những thông tin này rất hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và người chăm sóc, giúp họ hiểu rõ hơn về thách thức trong việc quản lý bệnh suy tim ở người cao tuổi.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội cho người cao tuổi, bạn có thể tham khảo bài viết "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng tuân thủ điều trị ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu giảm trên 65 tuổi", nơi cung cấp thông tin chi tiết hơn về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân suy tim.

Ngoài ra, bài viết "Chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi, từ đó có cái nhìn tổng quát hơn về môi trường sống và chăm sóc sức khỏe cho họ.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Phân tích các yếu tố tác động đến chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở Việt Nam", để nắm bắt được các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau liên quan đến sức khỏe và chăm sóc cho người cao tuổi.