đặt vấn đề rằng tạo vật đang chìm đắm trong dục lạc là một con người hay một con lợn? Thực ra, nếu khoái cảm là điều chí thiện tận mỹ trong cuộc sống, vì sao một con người đang chịu kho đau và thất vọng lại có thế được xem là "thượng đang" hơn một con lợn đang thỏa mãn trong dục lạc nhầy nhụa? Mill đi đến kết rằng hoan lạc phải có tính phân biệt về chất; vì thế, chỉ một lượng nhở lạc thú của con người cũng có giá trị hơn một lượng lớn lạc thú của một con lợn. Triết lý của Mill, tương phản với thuyết “hoan lạc định tính. Học thuyết đạo lý của Immanuel Kant Immanuel Kant (1724-1804) xây dựng một học thuyết đạo đức dựa trên nền tảng "thiện chí", ý chí nguyện tôn trọng các nguyên tắc luân lý. Vì the, học thuyết ấy còn được gọi bằng thuật ngữ "Đạo nghĩa học" (Deontologicaỉ) - đạo lý về bổn phận.
"Bốn phận là nghĩa vụ hành động xuất phát từ sự tôn trọng các quy tắc (đạo đức)" Toàn bộ vấn đề đạo đức đều bao hàm trong lĩnh vực "thiện ý có lý tính" (rational good will). Trong tác phấm "Siêu hình tính của luân lý", Kant nhận định: "Không có gì ở toàn bộ thế giới này, hay ngay cả bên ngoài thế giới này, có thế được xem là tốt đẹp hoàn toàn, ngoại trừ thiện ý". Nơi nào không có ý nguyện tốt lành, không có sự tự quyết, tất không có sự tồn tại của môi trường đạo đức. Triết lý yếm thế của Arthur Schopenhauer Triết gia Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) tin rằng Cái xấu có ưu thế hơn, rằng thế giới, về cơ bản, gắn liền với Cái xấu.
Hạnh phúc chỉ lướt qua, điểm xuyết những khoảnh khắc êm đẹp ngắn ngủi trong cuộc sống đầy đau khổ và bất hạnh. Như trong những truyện kể dân gian, sau biết bao thăng trầm tiếp nối, câu chuyện thường kết thúc khi anh hùng và mỹ nhân bước vào đời sống lứa đôi hạnh phúc. Neu như câu chuyện tiếp tục, những nồi bất hạnh tất yếu trong đời cuối cùng sẽ chứng minh cho quan điếm cùa Schopenhauer, rằng "cuộc sống là một thứ sai lầm", rằng "sinh ra ở đời đà là một cái tội". Triết lý tự nhiên cùa Friendrich Nietzche Friendrich Nietzche (1844-1900) tin rằng đạo đức phổ biến đương thời là thể nghịch đảo của đạo đức chân thực, rằng nhũng gì thực sự là đạo đức phải phù hợp và không bao giờ mâu thuẫn với bản chất của con người.
Ông có quan điểm tương đồng với Schopenhauer về bản chất của con người bao gồm cả bản năng song, rằng "sống là thực hiện toàn mãn nhũng bản năng của con người", không phải là áp chế chủng như các nền văn hóa phố biến trong thời hiện đại thường đòi hỏi. Nhưng Nietzche bất đồng sâu sắc với triết lý bi quan của Schopenhauer. Ông xác quyết rang vẫn còn khả năng hoàn thiện nếu chúng ta dành trọn ý nghĩa cuộc sống cho các bản năng, thay vì đè nén chúng. Triết lý trung thành của Josia Royce Josia Royce (1855-1916), triết gia Hoa Kỳ, định nghĩa đạo lý trung thành (Philosophy of loyalty) của mình là "sự tận hiến, về mặt ý chí cũng như trong hành động thực tế, của cá nhân dành cho một sự nghiệp nào đó.” Trung thành là lẽ phải tối thượng, bao hàm mọi đức hạnh trong đời.
Đành rằng đôi khi lòng trung thành có the dẫn đến xung đột nội tâm, nhưng ngay cả trong tình huống ấy, quyết định cần thiết vẫn là "trung thành với đức trung thành". Trung thành - Lẽ phải tối thượng Đức trung thành là lẽ Tân Thiện Mỹ trong đời (the summum bonum), bất kể nó được dành cho sự nghiệp hay lý tưởng gì. Sự nghiệp có thể đúng đắn hoặc xấu xa, đức trung thành chẳng bao giờ sai trái. Vì thế, huỷ hoại tinh thần cao đẹp của đức trung thành là điều hoàn toàn lồi lầm, cho dù bản thân người có lòng trung thành đang phục vụ cho một lý tưởng sai lầm.
Neu lòng trung thành được dành cho sự nghiệp không chính đáng, người ta cần tìm cách hướng nó vào mục đích xứng đáng hơn. Nói cho cùng, tinh thần của đức trung thành là điều cao đẹp, chọn đúng lý tưởng đế theo đuổi lại là vấn đề thuộc về trí tuệ và nhận thức. Trung thành với đức trung thành Khi lòng trung thành dẫn đến xung đột nội tâm, cá nhân nhất thiết phài "trung thành với đức trung thành". Nói cách khác, anh ta không nên huỷ hoại tinh thần cao đẹp của đức trung thành, hãy tôn vinh giá trị của nó.
Đối với người trung thành với một lý tưởng xấu xa, chúng ta không bao giờ nên phì báng hay đả phá tinh thần tận hiến của họ; tốt hơn nên tìm cách hướng dẫn, tạo điều kiện giúp họ nhận thức ra vấn đề và phát huy đức trung thành trong sự nghiệp tốt đẹp hơn. Mỗi cá nhân cần phải giữ gìn giá trị của lòng trung thành; hành vi nào gây tổn hại đến giá trị này đều được xem là phản bội lại đức trung thành cao cả. Chù nghĩa hiện thực đạo đức của George Edward Moore George Edward Moore (1873-1958) phát trien chủ nghĩa vị lợi lý tưởng (Ideal Utilitarianism) thành một triết lý độc lập với thuyết trực giác (Intuỉtionism). Thuyết trực giác khẳng định rằng mọi quy tắc đạo đức đều tồn tại bên trong mồi cá nhân, thuộc về lĩnh vực ý chí, chủ đích hay thiên bấm.
Ngược lại, chủ nghĩa vị lợi lý tưởng trình bày quan điểm đạo đức dưới hình thức các kết quả và sự kiện rõ ràng của hành động, về phần mình, Moore xác định bản chất đúng sai của hành vi dựa trên cơ sở hiệu quả do nó gây ra, bất kể ý định của người thực hiện. "Lẽ đúng sai của một hành vi luôn tuỳ thuộc vào kết quả toàn cục của nó." Neu hành vi ấy mang đến điều tốt đẹp cho cuộc sống trên thế giới này, nó là một hành động đúng đắn; nếu không, nó là một hành động sai trái. Hành vi đúng đan không chỉ là hành vi xuất phát từ ý định tốt lành, hay thậm chí được dự kiến là đúng đắn nhất trong điều kiện cho phép, nó phải là hành động 12 mang đến ích lợi thực tế. Lợi ích thực tế không phải là dạng kết quả tiên đoán dựa trên cơ sở đánh giá theo lẽ đúng - sai; nó phải là kết quả có giá trị cụ thể.
Khó khăn chủ yếu là cá nhân khó lòng xác định được liệu rằng hành động của mình thực sự sẽ mang đến kết quả khả dĩ tốt đẹp nhất hay không. Thực chất, chỉ có trí tuệ toàn năng mới xác định được điều ấy - nói cách khác, chi có hoạt động sáng tạo của Thượng đế mới có thế thỏa mãn được yêu cầu của đạo lý này.2 Đạo đức kinh doanh 1.1 Khái niệm đạo đức kinh doanh Đạo đức kinh doanh, được coi là sự phản ánh khía cạnh đạo đức của hoạt động kinh doanh, có lịch sử lâu đời. Trong Bộ luật Hammurabi (Bộ luật Hammurabi ở Lưỡng Hà thời cổ đại là bộ luật thành văn tương đối hoàn chỉnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại xuất hiện vào khoảng từ năm 1792 đến năm 1750 trước CN) có những điều quy định về kinh doanh. Ngoài các mục về giá cả còn có quy định mức phạt nghiêm khắc cho các hành vi không tuân thủ quy định.
Đây có thể coi là chứng cứ cho những cố gắng của nền văn minh nhân loại trong việc xác định các hành vi đạo đức trong kinh doanh. Triết học của Aristotle cũng đề cập đến vấn đề minh bạch trong quan hệ thương mại trong phần nói về quản lý các hộ nhân khấu. Tuy nhiên, khái niệm đạo đức kinh doanh như một ngành nghiên cứu độc lập, tự ý thức mới chỉ xuất hiện trong nửa cuối của thế kỷ 20. Vào năm 1974, hội nghị khoa học đầu tiên về đạo đức kinh doanh đã được tổ chức.
Đây là thời điểm mà Norman Bowie, nhà nghiên cứu về đạo đức kinh doanh nổi tiếng, coi là sự ra đời của ngành học. Kể từ thời điểm đó, đạo đức kinh doanh đã trở thành một chủ đề thảo luận phổ biến của các giám đốc điều hành, nhân viên, cổ đông, người tiêu dùng, và các giáo sư đại học tại Mỹ. Sau đó, ngành nghiên cứu về đạo đức kinh doanh đã lan rộng đến gần như tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên, không phải tất cả các học giả, giảng viên, nhà văn, và người phát ngôn đồng thuận trong các khái niệm về đạo đức kinh doanh.
Hầu hết đồng ý rằng đe có những tiêu chuẩn đạo đức cao, các doanh nghiệp và cá nhân phải tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc đạo đức nhưng một số khía cạnh đặc biệt phải được xem xét khi áp dụng đạo đức vào kinh doanh. Đầu tiên, để tồn tại, các doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận, nhưng đôi khi lợi nhuận thu được thông qua các hành vi sai trái, ở đây, có một cuộc xung đột tự nhiên, vốn có giữa kinh doanh và đạo đức. Xã hội muốn có các doanh nghiệp để tạo ra nhiều công ăn việc làm, những doanh nghiệp đó lại muốn hạn chế chi phí và nâng cao năng suất; khách hàng muốn mua hàng hóa và dịch vụ với giá thấp, nhưng các doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận; xã hội muốn giảm mức độ ô nhiễm, nhưng các doanh nghiệp muốn giảm thiếu chi phí môi trường. Do đó, một mâu thuẫn không the tránh khỏi đã phát sinh, bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lợi ích của công ty và nhân viên, khách hàng của họ, và cả xã hội.
Thứ hai, các doanh nghiệp phải cân bằng giữa 13 mong muốn về lợi nhuận của họ với các nhu cầu và mong muốn cùa xã hội. Các nhà quản lý phải liên tục có ý thức cân bằng nhu cầu của doanh nghiệp và các cổ đông của mình với nhu cầu của các bên liên quan khác, bao gồm cả người lao động, khách hàng và cộng đồng. Việc duy trì sự cân bằng này thường đòi hỏi phải có sự thỏa hiệp hay đánh đổi. Để giải quyết những vấn đề đặc biệt này của giới kinh doanh, xã hội đã phát triển các quy tắc - cả thành văn và không thành văn - để hướng dẫn các doanh nghiệp trong nồ lực tìm kiếm lợi nhuận bằng những phương pháp không gây tốn hại cho các cá nhân, môi trường hay xã hội.
Đây chính là cơ sở để ngành nghiên cứu về đạo đức kinh doanh ra đời. Stephen Brenner đã đưa ra định nghĩa đơn giản nhất về đạo đức kinh doanh: "Đạo đức kinh doanh là những nguyên tắc được chấp nhận quy định các hành vi đúng hoặc sai. Các nguyên tắc này chi phoi hoạt động cùa những nhà kinh doanh".