CHƯƠNG 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 1. KHÁI NIỆM CÔNG CỤ 1. KHÁI NIỆM CÔNG TÁC XÃ HỘI CTXH được xem như một khoa học, một nghề mang tính chuyên nghiệp, một nghệ thuật can thiệp đối với những vấn đề xã hội để tạo nên sự chuyển biến của xã hội và đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên từ gần thế kỷ nay.
Tại Việt Nam, CTXH thường bị hiểu lầm và nghĩ đến như một việc làm từ thiện. Dẫn đến việc cần phải có cái nhìn đầy đủ hơn về CTXH. Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH như sau: Theo Từ điển Bách khoa ngành CTXH (1995): “CTXH là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”. Vào tháng 7 năm 2011, Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế đã định nghĩa về CTXH như sau: “CTXH là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.
CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống. Hội đồng Đào tạo CTXH Mỹ đã định nghĩa: “CTXH là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả. Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân, xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội. Đại hội Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp Quốc tế ở Canada năm 2004, CTXH được định nghĩa với ý nghĩa tăng cường năng lực và phát triển, giải phóng con người: “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi (phát triển) của xã hội.
Bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề xã hội (nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng, CTXH giúp con người phát triển đầy đủ và hiệu quả hơn. Tại Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo năm 2004): “CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội”. ❖ Từ đó rút ra nhận định chung về khái niệm CTXH: CTXH là một nghề chuyên nghiệp góp phần thay đổi và phát triển xã hội thông qua 3 phương pháp là CTXH cá nhân, CTXH nhóm và Phát triển cộng đồng.
KHÁI NIỆM CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc tế - IFSW: Nhân viên công tác xã hội (Social Woker) là những người hoạt động trong nhiều lĩnh vực, được đào tạo chính 12 Thang Long University Library quy và bán chuyên nghiệp. Họ được trang bị đầy đủ các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội để hỗ trợ các đối tượng nhằm nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề trong cuộc sống. NVCTXH sẽ tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết nhằm thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với môi trường. Từ đó tạo sự ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua các hoạt động nghiên cứu, hoạt động thực tiễn.
Tác giả Grace Mathew (1992)1 đã nhấn mạnh CTXH cá nhân là việc giúp đỡ con người giải quyết những khó khăn về chức năng xã hội của họ trên cơ sở mối quan hệ nghề nghiệp một - một. Theo tác giả, CTXH cá nhân là một phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một - một. CTXH cá nhân được nhân viên các cơ sở sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện các chức năng xã hội. W (2000)2 đã định nghĩa về CTXH với cá nhân là “Hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên CTXH chuyên nghiệp sử dụng, ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về nội tâm, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ về làm việc mặt đối mặt”.
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998)3 cho rằng CTXH cá nhân được định nghĩa rất ngắn gọn và tập trung vào những vấn đề can thiệp của đối tượng “CTXH cá nhân là một biện pháp can thiệp quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một đối tượng cảm nghiệm”. ❖ Nhận định chung về khái niệm CTXH cá nhân: CTXH cá nhân là một trong 3 phương pháp CTXH, dựa trên cơ sở quan hệ một - một giữa thân chủ và nhân viên CTXH, từ đó thân chủ nhận ra điểm mạnh, nâng cao năng lực bản thân để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN CTXH đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo lập nên mối quan hệ hài hòa giữa thể chất, tinh thần của người bệnh với người nhà, giữa người bệnh với những người xung quanh, giữa người bệnh với cơ sở y tế đang điều trị,… Để nắm bắt được những điểm này, yêu cầu người NVCTXH cần phải đi sâu, tìm hiểu về mặt tâm lý, xã hội của người bệnh. Từ đó tìm ra được đâu là những khó khăn, trăn trở, băn khoăn 1 Tata Institute of Social Sciences, Bombay, The Introduction of Social Casework (1992) 2 Department of Public Health and Preventive Medicine, Louisiana State University Medical Center, New Orleans, Louisiana, USA, A structural model of health behavior: a pragmatic approach to explain and influence health behaviors at the population level 3 Th.
Nguyễn Thị Thái Lan, T.Bùi Thị Xuân Mai, 2014, Giao trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình, NXB Lao động xã hội 13 thực tế mà người bệnh đang gặp phải. Chính vì vậy sự có mặt của những NVCTXH tại bệnh viện là rất cần thiết và thiết thực. CTXH trong y tế nói chung đóng vai trò như một cầu nối giữa bệnh nhân, nhân viên y tế và cộng đồng thông qua các hoặt động đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về các dịch vụ khám, chữa bệnh tại khoa Khám bệnh. Bên cạnh đó cũng hỗ trợ khẩn cấp cho người bệnh là các nạn nhân bị bạo hành, bạo lực gia đình, giúp họ được đảm bảo an toàn.
CTXH trong y tế cũng hỗ trợ, tư vấn cho người bệnh về các quyền, lợi ích hợp pháp và những nghĩa vụ của người bệnh nằm nội trú như: bảo hiểm y tế, bảo trợ xã hội. Ngoài ra còn có việc cung cấp thông tin, tư vấn cho người bệnh, hỗ trợ các thủ tục chuyển tuyến, xuất viện… Bên cạnh đó, một trong những nhiệm vụ được các cán bộ NVCTXH tại bệnh viện chú trọng ưu tiên đó là kêu gọi các nhà hảo tâm nhằm tài trợ nguồn vật chất để chăm lo đời sống tinh thần và sinh hoạt hàng ngày cũng như hỗ trợ tiền viện phí cho những trường hợp bệnh nhân nặng có hoàn cảnh khó khăn. Theo Kỷ yếu hội thảo “Công tác xã hội trong bệnh viện - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, thực hành” năm 2016, CTXH trong bệnh viện là một tiến trình giúp đỡ người bệnh có thể đương đầu với các vấn đề cá nhân và xã hội liên quan đến bệnh tật của mình và có thể hưởng lợi ích tốt nhất từ việc chữa trị y tế. Công việc này cũng bao gồm việc giúp đỡ gia đình người bệnh.
Từ đó người bệnh và gia đình người bệnh có thể vượt qua những khó khăn. KHÁI NIỆM NGƯỜI CAO TUỔI Cần phải hiểu kỹ về khái niệm người cao tuổi vì đối tượng nghiên cứu của đề tài là CTXH cá nhân với người cao tuổi mắc bệnh suy thận. Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “người già” để chỉ những người có tuổi. Hiện nay thuật ngữ “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn.
Hai thuật ngữ này mặc dù không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, thuật ngữ “người cao tuổi” mang tới tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng hơn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Liên hợp quốc tuyên bố rằng “người cao tuổi” được biểu thị bằng độ tuổi từ 60 - 65 tuổi. Các chuyên gia còn xác định thêm các nhóm phụ của phân khúc dân số này như: “trẻ già” (60 - 69 tuổi), “trung niên” (70 - 79 tuổi), và “rất già” (trên 80 tuổi) hoặc phân chia người cao tuổi trong ba loại “trẻ già” (65 - 74 tuổi), “trung niên” (75 - 84 tuổi), và “người lớn tuổi nhất” (trên 85 tuổi). Trong Luật Người cao tuổi Việt Nam số 39/2009/QH12 ngày 23/11/2009 người cao tuổi của Việt Nam được xác định là những người có độ tuổi từ 60 tuổi.
Pháp lệnh về người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 28/04/2000 có quy định: Người cao tuổi theo quy định của Pháp lệnh này là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên. Theo quan điểm của Công tác xã hội: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH có cái nhìn về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hê x̣ ã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, nảy sinh các 14 Thang Long University Library vấn đề trong cuộc sống. Vì vậy, người cao tuổi được coi là một đối tượng yếu thế, cần nhận được sự trợ giúp của CTXH. KHÁI NIỆM BỆNH SUY THẬN MẠN Theo KDIGO 2012 (Kidney Disease Improving Global Outcomes), bệnh thận mạn (chronic kidney disease) là những bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận, kéo dài trên 3 tháng và ảnh hưởng lên sức khỏe người bệnh.