Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm chủ chốt Để việc trình bày luận văn được logic và khoa học trong các nội dung ở phần sau, các thuật ngữ và khái niệm (được định nghĩa trong Sổ tay Dân số của Population Reference Bureau) được sử dụng trong nghiên cứu gồm: 1. Già hoá dân số: Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ người trưởng thành và NCT tăng lên trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vị của dân số. Già hoá dân số là kết quả của quá độ nhân khẩu học trong đó mức chết và mức sinh đều giảm, cùng với tổng tỷ suất sinh giảm dần xuống mức sinh thay thế, tuổi thọ bình quân tăng lên đã làm tăng lao động hoặc số lượng người NCT.
Theo khuyến cáo của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi (60+) từ 10% trở lên thì quốc gia đó được coi là dân số già. Tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng khuyến cáo: một đất nước có trên 10% người cao tuổi (60+) được coi là một đất nước dân số già. Như vậy, già hóa dân số phản ánh sự phát triển KT-XH, y tế, giáo dục, khoa học công nghệ, DS-KHHGĐ… của Việt Nam. Khi có điều kiện kinh tế tốt, chăm sóc sức khỏe y tế tốt, đời sống văn hóa tinh thần không ngừng được nâng cao thì tuổi thọ ngày càng cao.
Làm tốt công tác DS- KHHGĐ, mức sinh giảm (Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế từ năm 2006) đồng nghĩa với việc tỷ lệ trẻ em và vị thành niên trong tổng dân số giảm. Hai xu hướng trên dẫn đến kết quả là tỷ lệ NCT tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, sự thay đổi cơ cấu dân số toàn cầu theo hướng già hoá tác động sâu sắc tới mọi khía cạnh của cá nhân, cộng đồng, của từng quốc gia và 11 cộng đồng quốc tế; liên quan đến mọi mặt của đời sống loài người: Xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, tâm lý và tinh thần. Dân số già hoá nhanh cũng sẽ gây những ảnh hưởng tương tự như tăng trưởng dân số nhanh, tạo áp lực cho hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, hệ thống dịch vụ sức khoẻ, giao thông đi lại, quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống cũng như hệ thống hưu trí cho NCT.
chắc chắn sẽ làm cho những vấn đề KT-XH, môi trường thêm trầm trọng và có nhiều biến động không thể lường trước. Người cao tuổi: Người cao tuổi (NCT) hay còn gọi là người già/người cao niên là người thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định. Tại Việt Nam, Luật Người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 cao hiệu lực ngày 1/7/2010) quy định “Người cao tuổi là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”. Tại các nước phát triển, luật quy định từ 65 tuổi trở lên được coi là người già/người cao niên/NCT.
Tuy nhiên ở các nước đang phát triển và kém phát triển quy định về độ tuổi của người già/người cao niên/NCT tùy theo luật của từng nước, một số nước quy định trong luật là 60 tuổi trở lên trong khi một số nước khác quy định mốc 65 tuổi trở lên. Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, Liên Hợp Quốc chấp nhận từ 60 tuổi trở lên là mốc để xác định dân số già. Trong người già/người cao niên/NCT phân loại người già nhất từ 85 trở lên. Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già/người cao niên vì thực tế nhiều người từ 60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự kính trọng, động viên hơn so với cụm từ "người già".
Nhưng về khoa học thì người già hay NCT đều được dùng với ý nghĩa như nhau. Chăm sóc NCT: Khi nói đến chăm sóc NCT, cách hiểu thường là chăm sóc sức khỏe NCT và chăm sóc sức khỏe bao gồm cả chăm sóc về vật chất và tinh thần. Theo Hội đồng biên soạn Từ điển bách khoa quốc gia “Chăm sóc là hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân”. Như vậy, chăm sóc gồm cả chăm sóc thể chất và tinh thần, chăm sóc không chỉ là nhiệm vụ của mỗi ngành y tế là chăm sóc sức khỏe mà là nhiệm vụ của mọi ngành mọi cấp, mọi xã hội và của bản thân mỗi người dân.
Tổ chức y tế thế giới (WHO): Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), chăm sóc NCT là công việc của toàn xã hội, đòi hỏi sự tiếp cận mang tính tổng thể, phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố liên quan đến nhu cầu của chính NCT (WHO, Report at Asian Conference on Health resource, UN in Bangkok 12/1995). Chính sách pháp luật Việt Nam: Luật Người cao tuổi quy định “Phụng dưỡng người cao tuổi là chăm sóc đời sống tinh thần, vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ và các nhu cầu về vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp, học tập của người cao tuổi” Như vậy, chúng ta có thể hiểu “Chăm sóc NCT thực chất là các hoạt động đáp ứng 8 nhu cầu cơ bản của NCT (sức khỏe, ăn mặc, ở, đi lại, học tập, vui chơi giải trí, thông tin, giao tiếp) trên các mặt sức khỏe, vật chất và tinh thần để NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích. Các loại hình chăm sóc người cao tuổi: Trong lĩnh vực chăm sóc NCT, thường có sự phân biệt giữa chăm sóc không chính và chăm sóc chính thức. Tự chăm sóc và chăm sóc không chính thức từ NCT/Gia đình/Người 13 thân: Là hình thức NCT tự chăm sóc mình và nhận sự chăm sóc từ con cháu, người thân trong gia đình và tại gia đình; Chăm sóc chính thức của Nhà nước và xã hội, các hình thức chăm sóc chính thức như: qua hệ thống ASXH, trợ cấp, các chương trình xóa đói giảm nghèo, các hoạt động hỗ trợ vật chất, tư vấn và KCB miễn phí.
Các Loại hình chăm sóc người cao tuổi: Mô hình chăm sóc NCT tại nhà; Mô hình chăm sóc NCT hỗn hợp: Chăm sóc tại nhà kết hợp với chăm sóc tại các Trung tâm chăm sóc theo ngày hoặc chăm sóc định kỳ tại Nhà dưỡng lão, Khu điều dưỡng NCT rồi lại về nhà; Mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng: Nhà dưỡng lão, Khu điều dưỡng, Nhà xã hội, Khu bảo trợ xã hội. Các lý thuyết được vận dụng 1. Lý thuyết hiện đại hóa của Goode (1963) Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tác động đến tất cả các xã hội, làm biến chuyển các gia đình theo khuôn mẫu gia đình hạt nhân. Một số áp lực hiện đại hóa như sự mở rộng cơ hội giáo dục, mở rộng cơ hội hoạt động nghề nghiệp, vị thế phụ nữ được nâng cao làm cho các cá nhân ít rang buột hơn với gia đình, lập gia đình muộn và thường chọn mô hình gia đình hạt nhân.
Điều này giúp giải thích quan điểm thích hoặc không thích sống cùng cha mẹ của giới trẻ. Lý thuyết hiện đại hóa còn cho rằng khi qua trình công nghiệp hóa xảy ra, xã hội sẽ biến chuyển theo mô hình biến đổi xã hội như từng xảy ra ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản: dân số giảm, các giá trị truyền thống dần bị thay thế bởi những giá trị mới, gia đình hạt nhân tăng, quan tâm đến quyền cá nhân. Lý thuyết lựa chọn hợp lý của Jame S. Coleman Hành động có mục đích của cá nhân nhằm hướng tới một mục tiêu, mà mục tiêu đó được định hình bởi các giá trị hay sở thích.
Lý thuyết này giải thích hành vi lựa chọn những loại hình chăm sóc người cao tuổi của người dân. Lý thuyết cơ cấu – chức năng Xã hội là một hệ thống có nhiều bộ phận khác nhau, chúng liên kết với nhau nhằm đưa đến cố kết xã hội và ổn định xã hội. Bất cứ một bộ phận nào của xã hội cũng có hơn một chức năng. Lý thuyết này giúp chỉ ra những chức năng của của các loại hình chăm sóc dành cho người cao tuổi như : chức năng công khai là cung cấp những dịch vụ chăm lo cho đời sống của người cao tuổi, chức năng tiềm ẩn là những loại hình dịch vụ này có thể cho thấy sự phát triển của một quốc gia.
Nhưng đôi khi chính những loại hình dịch vụ này lại tạo nên sự phân biệt giàu, nghèo, giai cấp trong xã hội. Khung phân tích 15 Chăm sóc NCT tại nhà Chăm sóc NCT - Con cháu thay tại các trại dưỡng nhau chăm sóc lão/ trung tâm - Thực trạng loại - Con cái thay chăm sóc NCT hình chăm sóc NCT nhau chăm sóc có trong thành phố sự giup đỡ của - Lựa chọn của người dân người giúp việc về loại hình chăm sóc NCT 1. Một số chính sách về chăm sóc người cao tuổi hiện nay Sự hình thành và phát triển chính sách NCT từ khi thành lập nước năm 1945 qua các giai đoạn sau: Giai đoạn 1945 – 1994 (50 năm): Ngay từ thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945), Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến NCT, điều đó thể hiện rất rõ trong Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”. Điều 32 16 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật.
Mở rộng BHXH, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội. Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “.Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
Năm 1991, sau khi Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã ra Nghị quyết 45/106 lấy ngày 1/10 hàng năm là ngày quốc tế NCT, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam lúc đó đã ra lời kêu gọi cả nước hưởng ứng quyết định của Liên Hợp Quốc, đồng thời khẳng định “chăm sóc sức khoẻ NCT là một chính sách rất quan trọng và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”.