Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và công cụ đo lường Khối lượng công việc 1. Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động(8).
Nhân lực y tế Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa : “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp, dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cá nhân nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nhân lực y tế bao gồm các cán bộ y tế (CBYT) chính thức và không chính thức (lang y, cô đỡ thôn bản, tình nguyện viên xã hội…) và cả những người làm việc trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp)(9). Trong cấu thành hệ thống y tế, bao gồm sáu thành phần cấu thành đầu vào quan trọng bao gồm: cung ứng dịch vụ; nhân lực y tế; thông tin; các sản phẩm y tế, công nghệ; tài chính và quản lý điều hành.
Trong đó nhân lực y tế có vai trò quyết định và quan trọng trong cung cấp dịch vụ CSSK cho người dân. Có 2 khái niệm thường xuyên được sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y tế đó là phát triển và quản lý nguồn nhân lực. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực đề cập đến cơ chế nhằm phát triển kỹ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân về mặt tổ chức công việc(10). Bên cạnh đó, khái niệm quản lý nguồn nhân lực theo WPRO, “quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất.
Mục đích chung là để có số lượng nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý”(11). Khái niệm điều dưỡng Điều dưỡng là một môn nghệ thuật và khoa học nghiên cứu cách chăm sóc bản thân khi cần thiết, chăm sóc người khác khi họ không thể tự chăm sóc. Tuy nhiên tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà định nghĩa về điều dưỡng được đưa ra khác nhau. Tại Việt Nam điều dưỡng viên từng được gọi là y tá.
Hiện nay, theo cách dịch mới và thống nhất chuẩn quốc tế, ngành y tế tại Việt Nam đã sử dụng thống nhất thuật ngữ điều dưỡng viên tại các cơ sở y tế. Theo định nghĩa Wikipedia: “Điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội”; Theo Hiệp hội điều dưỡng Hoa Kỳ: “Điều dưỡng là sự bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khoẻ và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội”(12). Phân loại điều dưỡng theo chức năng, nhiệm vụ 1. Phân loại chức danh nghề nghiệp điều dưỡng tại cơ sở y tế công lập hiện nay Hiện nay Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư quy định cụ thể tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng cũng như quy định chức năng, nhiệm vụ của từng nhóm chức danh điều dưỡng bao gồm: Điều dưỡng hạng II, điều dưỡng hạng III và điều dưỡng hạng IV(13).
Trong đó nhóm điều dưỡng hạng II, điều dưỡng hạng III và điều dưỡng hạng IV đều có các nhóm nhiệm vụ bao gồm: - Chăm sóc người bệnh - Sơ cứu, cấp cứu - Truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe - Chăm sóc sức khỏe cộng đồng - Bảo vệ và thực hiện quyền của người bệnh - Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị - Đào tạo, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp 6 Tuy nhiên từng nhóm chức danh sẽ được quy định từng nhiệm vụ chi tiết để phù hợp chức năng cho từng vị trí đó. Phân loại nhiệm vụ điều dưỡng Dựa theo Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 20/1/2011 của Bộ Y tế về công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh, nhiệm vụ của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh bao gồm: tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe, chăm sóc về tinh thần, chăm sóc vệ sinh cá nhân, chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc phục hồi chức năng, chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật, dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh, chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong, thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng, theo dõi, đánh giá người bệnh, bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh, ghi chép hồ sơ bệnh án(14). Bộ Y tế phân chia hoạt động chăm sóc gồm có trực tiếp và gián tiếp. Trong đó chăm sóc trực tiếp bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc vệ sinh thân thể cho người bệnh, chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật, thực hiện kỹ thuật điều dưỡng, kỹ thuật chăm sóc, đi buồng, hỗ trợ bác sĩ thực hiện các phẫu thuật, thủ thuật, hỗ trợ đồng nghiệp trong công tác chăm sóc người bệnh, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh.
Chăm sóc gián tiếp bao gồm: Quản lý dụng cụ, quản lý thuốc, ghi chép phiếu theo dõi, phiếu chăm sóc, giao ban, báo ăn cho người bệnh, vận chuyển người bệnh(15). Khối lượng công việc KLCV mà một người được dự kiến làm trong một khoảng thời gian quy định(16). Theo Obrien – Pallas và Glovannetti (1993) đã miêu tả KLCV của điều dưỡng là lượng công việc hàng ngày bao gồm các công việc trực tiếp, gián tiếp và thông qua lượng công việc đó yêu cầu nguồn nhân lực cần thiết để chăm sóc cho mỗi người bệnh. Theo Lee Ridoutt và cộng sự, đo lường KLCV là cách nắm bắt và ghi lại thời gian hoặc các hoạt động của nhân viên trong việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức 7 khỏe.
Theo ông đo lường KLCV là đo lường một mối quan hệ đơn giản được thể hiện như sau: - Hoạt động chăm sóc đo lường thông qua: Tổng số lượt người bệnh đăng ký khám chữa bệnh, số lượng người bệnh điều trị nội trú, ngoại trú, số dịch vụ y tế thực hiện… - KLCV được thể hiện thông qua: số nhiệm vụ được giao, số can thiệp dịch vụ kĩ thuật trên người bệnh, các chức năng chăm sóc mà điều dưỡng thực hiện trên người bệnh - Việc đo thời gian thực hiện từng hoạt động trên mỗi người bệnh thông qua: Đo thời gian khám, thời gian chăm sóc cho mỗi NB, mỗi dịch vụ kĩ thuật thực hiện tính theo ngày, tuần, tháng, năm. Mối quan hệ đó chính là các hoạt động cung cấp DVYT được cung cấp thông qua từng cá nhân làm việc và số lượng cần thiết xuất phát từ yêu cầu thực hiện các công việc cụ thể phải hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định. Các công cụ tính KLCV và nhu cầu nhân lực Có nhiều phương pháp khác nhau để đo lường nhu cầu về nhân lực y tế nhưng hầu hết các cách đang sử dụng phối hợp các tỷ số giữa người hành nghề trên số dân, mô hình bệnh tật. Theo USAID có hai phương pháp xác định KLCV trong các tổ chức công(17): Một là căn cứ trên thời gian chuẩn: Phương pháp này dựa vào thông tin đầy đủ sẵn có về thời gian chuẩn cho mỗi quy trình, trong đó, số lượng công việc của đơn vị mỗi năm và thời gian làm việc trung bình của mỗi một lao động thực hiện trong năm phải được tính, có sự xem xét các trường hợp nghỉ trong năm; Hai là dựa trên năng suất: Phương pháp này cần phải xác định số lượng lao động hiện tại ở mỗi đơn vị và xác định thời gian cần thiết để xử lý một công việc trong một quy trình.
Tùy vào mức độ phức tạp của từng nhóm công việc hay sự rõ ràng, cụ thể trong quy trình chuyên môn mà chúng ta có thể đưa ra lựa chọn cho hợp lý. 8 Theo WHO: các cách truyền thống để xác định yêu cầu nhân sự bao gồm tính toán tỷ số người hành nghề - số dân và tiêu chuẩn nhân việ tại cơ sở đều bộc lộ nhược điểm. Trên hết, nó không tính đến các biến thể cục bộ rộng lớn về nhu cầu dịch vụ và công việc mà NVYT thực sự phải thực hiện(18). Giới thiệu về bộ công cụ WISN Phương pháp WISN là công cụ quản lý nhân lực nhằm giúp xác định số lượng người làm việc cho từng vị trí tương ứng với khối lượng công việc và giúp nhà quản lý đánh giá áp lực công việc đối với điều dưỡng tại cơ sở đó.
Phương pháp WISN dựa trên KLCV của nhân viên y tế, với các chuẩn hoạt động về thời gian được áp dụng cho mỗi cấu phần KLCV. Phương pháp có tính đến sự khác biệt trong dịch vụ cung cấp tại các cơ sở cũng như tính chất phức tạp của từng DVKT khác nhau tại các CSYT. Phương pháp WISN dễ áp dụng tại tất cả các cơ sở y tế ở các cấp, sử dụng các số liệu sẵn có tại cơ sở. Phương pháp này được thực hiện thông qua 7 bước chính bao gồm: Bước 1: Xác định các chức danh nghề nghiệp cần tính toán KLCV, Dựa trên nhiệm vụ/vai trò chính của họ tại các CSYT, những nhân viên thực hiện công việc tương tự nhau xếp thành một nhóm.
Trong một số nghiên cứu, người nghiên cứu có thể khu trú cho một nhóm NVYT (như bác sĩ, kĩ thuật viên…) cụ thể thì không cần thực hiện bước này. Bước 2: Tính toán thời gian làm việc sẵn có của mỗi chức danh nghề nghiệp (Available Working Time – AWT), AWT được định nghĩa là thời gian làm việc(theo giờ) của một nhân viên y tế có trong một năm để hoàn thành công việc của mình, có tính tới nghỉ có phép và nghỉ không phép.