ĐẶT VẤN ĐỀ Nguồn nhân lực y tế đang có sự thiếu hụt nghiêm trọng ở quy mô toàn cầu, theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có 57/192 quốc gia thiếu hụt nhân viên y tế (NVYT), cần phải có thêm 4,3 triệu NVYT trong đó có 2,4 triệu bác sĩ, y tá, hộ sinh để đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế. Ngoài nguyên nhân do thiếu chuẩn bị đầu vào, nguồn nhân lực còn thiếu hụt do nguyên nhân khác nhƣ di cƣ, thay đổi nghề nghiệp, nghỉ hƣu sớm do sức khỏe [31]. Nguồn nhân lực y tế trên thế giới phân bố không đều giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển cũng nhƣ trong một nƣớc giữa nông thôn và thành thị. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế tại 57 quốc gia hầu hết thuộc khu vực Châu Phi và Châu Á đang là một vấn đề nghiêm trọng cần phải đƣợc xem xét nhƣ một phần không thể tách rời trong việc củng cố hệ thống y tế [31].
Việt Nam cũng đang đƣơng đầu với những vấn đề về nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế cũng nhƣ sự phân bố mất cân đối giữa các vùng miền nhƣ: Đồng bằng Sông Cửu Long và Tây Bắc là 2 vùng có mật độ NVYT thấp nhất khoảng 21 - 25/10. Hơn nữa cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trƣờng đang có sự chuyển dịch nguồn nhân lực từ khu vực công sang khu vực tƣ, trong đó có nguồn nhân lực y tế [28]. Tại Việt Nam, các đơn vị Y tế dự phòng (YTDP) có vị trí chiến lƣợc rất quan trọng trong công tác phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, thực hiện nhiều chƣơng trình mục tiêu quốc gia. Do vậy, việc phát triển và duy trì nguồn nhân lực YTDP là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân.
Tuy nhiên, hiện nay cán bộ lĩnh vực YTDP là thiếu nhiều nhất. Cả nƣớc hiện có 29.301 cán bộ YTDP, trong khi nhu cầu tối thiểu cần 45.260 ngƣời, thiếu 15. Một trong những nguyên nhân của sự thiếu hụt là do công việc rất vất vả, thƣờng xuyên phải đi công tác cơ sở, thu nhập thấp do chỉ có lƣơng, công tác phí và phụ cấp ƣu đãi nghề [3]. Theo Thông tƣ liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ thì tại tuyến tỉnh có nhiều đơn vị y tế thực hiện các chức năng YTDP gồm: TTYTDP tỉnh, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Phòng 2 chống bệnh xã hội, Trung tâm Phòng chống Sốt rét, Trung tâm Kiểm dịch y tế biên giới… [11].
Thực hiện Thông tƣ liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ, thì trong giai đoạn 2016 - 2020 sẽ thành lập Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) tuyến tỉnh, thành phố trên cơ sở sáp nhập các Trung tâm có cùng chức năng trên địa bàn tỉnh [12]. Khi đó, cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực y tế của các Trung tâm sẽ có sự biến động lớn [21]. Căn cứ vào điều kiện và tình hình thực tế tại địa phƣơng, Sở Y tế tỉnh Bến Tre dự kiến sáp nhập các đơn vị YTDP để thành lập Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) tuyến tỉnh sẽ hoàn thành vào năm 2020. Do vậy, hiện tại TTYTDP tỉnh Bến Tre vẫn tiếp tục áp dụng mô hình, cơ cấu tổ chức theo Thông tƣ số 51/2014/TT-BYT của Bộ Y tế và định mức biên chế theo Thông tƣ liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV.
Báo cáo của các đơn vị y tế trong tỉnh Bến Tre đều cho thấy có sự thiếu hụt về số lƣợng NVYT, đặc biệt là bác sĩ, cán bộ có trình độ đại học…. Trong đó lĩnh vực YTDP là thiếu nhiều nhất. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bến Tre nhiều năm liền không tuyển dụng đƣợc bác sĩ mà còn phải đƣơng đầu với tình trạng bác sĩ xin chuyển công tác đi nơi khác. Trong hoàn cảnh đó, để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị ngoài việc tiếp tục thu hút nguồn nhân lực, đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị… cần tính đến việc đào tạo phát triển nhân lực và duy trì nguồn nhân lực hiện có [25].
Từ thực trạng trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: c tr ng n ân l c y tế và một số yếu tố ản ưởng đến t u út và duy trì nhân l c y tế t i rung tâm Y tế d p òng tỉn Bến re giai đo n 2012 - 2016”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng nhân lực y tế của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2012 - 2016. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến thu hút và duy trì nhân lực y tế tại Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2012 - 2016.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nhân lực y tế Nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu phát triển ngƣời lao động cả ở hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Nguồn nhân lực cũng phản ánh tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia và thế giới.
Số lƣợng nhân lực là nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phƣơng hay một quốc gia nào, câu hỏi đầu tiên đƣợc đặt ra là có bao nhiêu ngƣời và sẽ có bao nhiêu ngƣời nữa trong tƣơng lai. Đây là câu hỏi cho việc xác định số lƣợng nguồn nhân lực. Sự phát triển số lƣợng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức nhƣ: sự gia tăng về dân số hay lực lƣợng lao động di dân. Chất lƣợng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ: trí tuệ, trình độ, hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của ngƣời lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên phƣơng diện nhƣ: cơ cấu theo trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi…Cơ cấu nhân lực của một quốc gia nói chung đƣợc quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế, theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực [19]. Theo WHO (2006), nhân lực y tế là tất cả những ngƣời tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của ngƣời dân.
NVYT bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế (DVYT): bác sĩ, điều dƣỡng, dƣợc sĩ, kỹ thuật viên, những ngƣời quản lý và nhân viên khác: nhân viên kế toán, cấp dƣỡng, lái xe, hộ lý. Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các đơn vị trong hệ thống y tế. Tuy nhiên, dữ liệu về số NVYT chủ yếu giới hạn trong những ngƣời tham gia vào các hoạt động đƣợc trả lƣơng. Việc xếp loại nhân viên đƣợc trả lƣơng cũng không phải đơn giản.
Một số ngƣời trong các bệnh viện mà công việc của họ không trực tiếp nâng cao sức khỏe (ngƣời quản lý, nhân viên kế toán, lái xe, nhân viên vệ 5 sinh…) hay những bác sĩ đang thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho công nhân, làm việc trong những công ty, nhƣng công ty đó lại không có hoạt động nâng cao sức khỏe thì vẫn đƣợc tính là NVYT. Vì những lý do đó, nguồn lực y tế đƣợc xem là bao gồm những ngƣời hƣởng lƣơng trong những cơ quan, tổ chức có mục đích chính là nâng cao sức khỏe nhƣng làm việc trong những cơ quan, tổ chức khác nhau [31]. Nhu cầu về nhân lực y tế là một nhu cầu thứ phát (derived demand) từ nhu cầu chăm sóc sức khỏe, và nhu cầu về chăm sóc sức khỏe lại là nhu cầu thứ phát từ nhu cầu có đƣợc sức khỏe tốt. Vì lẽ đó, nhân lực y tế cần đƣợc đặt trong một khung cảnh rộng lớn hơn là tỷ số NVYT/dân số (ví dụ: Tỷ số bác sĩ/10.000 dân), bao gồm cả các yếu tố: địa lý, văn hóa, kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật, cũng nhƣ các mối tƣơng quan giữa chính sách, hệ thống y tế, nguồn lực, thị trƣờng lao động và hệ thống đào tạo [27].
Nhân lực y tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống y tế, nó ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con ngƣời. Ở mọi hệ thống y tế, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản tạo nên những thành tựu y tế [31]. Đặc thù của nhân lực y tế Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị đã nêu rõ nguyên tắc chỉ đạo nguồn nhân lực y tế, cụ thể là: “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt…” [1]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Lương y như từ mẫu”.
Cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã từng phát biểu về đặc trƣng của nghề y “Ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế. Đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinh nghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên quan đến tính mạng con người và hạnh phúc gia đình…” [18]. Nghề y là một nghề cao quý đƣợc xã hội tôn trọng bởi vì có nhiệm vụ chữa bệnh cứu ngƣời, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Đó là một nghề đòi hỏi phải có lòng nhân ái, dám chịu đựng vất vả, hy sinh để cứu ngƣời, tôn trọng nhân phẩm và quyền lợi của bệnh nhân, thực hiện các quy tắc ứng xử có trách nhiệm và không phân biệt đối xử.
Tuy nhiên, kỳ vọng rất cao của xã hội 6 đối với ngƣời thầy thuốc cả về chất lƣợng và đạo đức lại bị đe dọa bởi áp lực rất lớn từ bất cập của nền kimh tế thị trƣờng, trong khi các quy định và chế tài chƣa đầy đủ để đảm bảo các chuẩn mực cao về y đức cũng nhƣ chất lƣợng chăm sóc y tế tốt cho tất cả mọi ngƣời [5]. Quản lý nguồn nhân lực 1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.