ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe tâm thần đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa vào khái niệm nổi tiếng về sức khỏe: “. là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không đơn giản là không có bệnh tật hay đau yếu”. Định nghĩa này thể hiện rất rõ rằng: sức khỏe tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung; là một khái niệm rộng chứ không phải chỉ là không có bệnh tâm thần; và sức khỏe tâm thần có mối liên hệ mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi [7]. Năm 2003, WHO đã đưa ra khái niệm về sức khỏe tâm thần “.
là trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập, làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng” [46]. Trong bối cảnh hiện nay, việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trên thế giới ngày càng được quan tâm do sức khỏe tâm thần đang chiếm một tỷ lệ cao trong cơ cấu bệnh tật cũng như trong chăm sóc sức khỏe ban đầu trong cộng đồng [10]. Theo Liên hiệp quốc, ước tính khoảng 25% dân số thế giới bị gánh nặng về sức khỏe tâm thần. Theo báo cáo của WHO, những đối tượng có vấn đề về sức khỏe tâm thần trong thời gian dài sẽ bị một trong ba nguyên nhân gây ra tàn phế, cùng với bệnh tim mạch và các tổn thương về cơ-xương khớp; là lý do chính làm tăng gánh nặng kinh tế ở một số nước trên thế giới [2].
Vấn đề sức khỏe tâm thần ở Việt Nam không nằm ngoài tình hình chung của toàn cầu. Kết quả điều tra quốc gia năm 1999-2000 cho thấy tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm thần phổ biến là 15%, trong đó có trầm cảm và lo âu [8]. Gần đây một số nghiên cứu ở quy mô nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ rối loạn tâm thần khoảng 20-30% [8]. Nghiên cứu của trường Đại học Y tế công cộng về “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” cho kết quả nhóm bệnh tâm thần kinh và bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam (17%)[5].
Hậu quả của rối loạn tâm thần không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của mỗi cá nhân mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn xã hội. Nghiên cứu của Viện Sức khỏe tâm thần (2008) trên 9.201 người thuộc 10 nhóm ngành nghề lao động đặc biệt chịu căng thẳng cho thấy 10,7% người lao động bị các rối loạn liên 2 quan đến sức khỏe tâm thần [12]. Đối với ngành y tế, nhiều nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế có tỷ lệ lạm dụng thuốc và tự tử cao hơn so với các ngành nghề khác và có tỷ lệ cao của stress, lo âu, trầm cảm liên quan đến công việc căng thẳng. Các rối loạn tâm thần của nhân viên y tế góp phần đưa đến các hậu quả như kiệt sức, vắng mặt, nhân viên có ý định chuyển công tác, giảm sự hài lòng của người bệnh và mắc nhiều lỗi trong quá trình chẩn đoán, điều trị, chăm sóc [29].
Bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng là bệnh viện chuyên khoa hạng I. Bệnh viện chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4/2011 với quy mô 600 giường bệnh kế hoạch. Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy có một số nguy cơ có thể tăng gánh nặng tâm thần cho nhân viên y tế, đặc biệt đội ngũ điều dưỡng, hộ sinh. Từ khi bắt đầu thành lập đến nay, tình trạng quá tải người bệnh tiếp tục duy trì ở mức cao thể hiện ở chỉ số công suất sử dụng giường bệnh hàng năm (năm 2013:193%) [1].
Mặt khác, bệnh viện Phụ Sản - Nhi là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về Phụ Sản - Nhi ở khu vực Nam Trung Bộ, chịu trách nhiệm khám chữa bệnh về chuyên ngành Phụ Sản - Nhi không chỉ ở thành phố Đà Nẵng mà còn các tỉnh lân cận. Hằng năm, có khoảng 30% người bệnh điều trị nội trú là người ngoại tỉnh [1]. Người bệnh được chuyển đến thường trong giai đoạn nặng từ các đơn vị tuyến dưới. Điều này đồng nghĩa với số lượng người bệnh đông, tăng gánh nặng công việc cho nhiều nhân viên y tế.
Điều dưỡng, hộ sinh là nhóm làm việc lớn nhất và đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của hệ thống chăm sóc sức khỏe. Điều dưỡng là một nghề căng thẳng, phải làm việc cả ngày lẫn đêm, đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm, đối mặt với người bệnh và người nhà người bệnh có phản ứng không phù hợp, đối mặt với cái chết … Thường xuyên phải làm việc trong môi trường như vậy, điều dưỡng, hộ sinh có thể lâm vào trạng thái rối loạn tâm thần. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng năm 2014” nhằm xác định tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng, hộ sinh, từ đó tìm những giải pháp dự phòng thiết thực giúp giảm các vấn đề sức khỏe tâm thần cho điều dưỡng, hộ sinh, nâng cao chất lượng quản lý nhân lực của bệnh viện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng năm 2014. Xác định những yếu tố liên quan đến tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng bệnh viện Phụ Sản - Nhi Đà Nẵng. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về gánh nặng tâm thần trong lao động Gánh nặng tâm thần là sự mất cân bằng giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng của con người trong một điều kiện nhất định [2].
Gánh nặng tâm thần trong lao động xảy ra khi các yêu cầu của công việc mà người lao động không đủ khả năng thực hiện. Gánh nặng tâm thần trong lao động có thể dẫn đến tổn hại sức khỏe người lao động và thậm chí còn là nguyên nhân gây ra tai nạn lao động [2]. Gánh nặng tâm thần trong lao động ảnh hưởng đến các chức năng, chức phận của một cá thể và khả năng làm việc trong tập thể lớn. Nó phụ thuộc vào tuổi của cá thể khi bùng phát vấn đề sức khỏe tâm thần và khả năng làm việc của những đối tượng đó giảm sút [2].
Những người bị gánh nặng tâm thần thường bị các rào cản về môi trường, xã hội và đối xử trong tìm việc làm hoặc quay lại vị trí làm việc cũ sau khi điều trị. Rào cản về đối xử và bị loại ra ngoài xã hội thường là cản trở lớn nhất khó có thể vượt qua và họ thường cảm thấy hổ thẹn, sợ hãi và bị cự tuyệt. Theo nhiều báo cáo, nhiều người lao động sau khi nghỉ việc hoặc phải sử dụng thuốc điều trị họ thường cảm thấy buồn chán, khả năng duy trì kỹ năng làm việc giảm và không muốn tiếp xúc với bạn đồng nghiệp, nhất là những người lãnh đạo trong nhà máy, phân xưởng… Một số người sau khi trở lại làm việc thì làm việc không như trước và thường thay đổi hành vi, đây là những rào cản của họ đối với công việc [2,47]. Trong các vấn đề về gánh nặng tâm thần thì stress, lo âu, trầm cảm là nhóm phổ biến hiện nay [39].
Cũng theo WHO thì hiện có đến hơn 20% dân số bị lo âu; có gần 10% nam giới và 20% nữ giới từng có triệu chứng trầm cảm khá rõ rệt trong cuộc đời và hiện có hơn 350 triệu người đang mắc bệnh trầm cảm (khoảng 5% dân số). Còn theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho biết hiện có khoảng 20% người lao động trên thế giới bị stress trong công việc và tỷ lệ này đang không ngừng gia tăng [4,34]. Giới thiệu về stress, lo âu, trầm cảm 1. Stress Stress là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng.
Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu, stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [30]. Trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn có rất nhiều khái niệm khác nhau về stress tùy theo từng cách nhìn vấn đề của mỗi tác giả mà họ đưa ra những quan niệm khác nhau. - Theo Hans Selye - người đầu tiên phát triển khái niệm stress hiện đại: Stress là hội chứng thích nghi toàn thân bao gồm những phản ứng không đặc hiệu của cơ thể trước tác nhân kích thích (aggression) [9]. Delay: Stress là trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe dọa [9].
- Theo Humphrey: Về bản chất, stress có thể được coi là bất kỳ yếu tố, tác động bên trong hay bên ngoài làm cho cơ thể khó để thích nghi và làm gia tăng nỗ lực lên một phần của con người để duy trì một trạng thái cân bằng cả bên trong và với môi trường bên ngoài [31]. Như vậy, chúng ta có thể xem stress như sự đáp ứng của con người trước một nhu cầu hoặc như sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh. Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính. Stress đặt con người vào quá trình dàn xếp thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động của môi trường.
Nói cách khác, stress bình thường đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi. Nếu đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của 6 cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và sẽ tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [11]. Trong môi trường làm việc không lành mạnh có thể tăng các nguy cơ stress cho người lao động.