CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 1.Một số khái niệm cơ bản về tạo động lực lao động Công tác tạo động lực cho người lao động đang là mối quan tâm của rất nhiều nhà lãnh đạo và quản lý bởi kích thích lao động có thể giúp tăng năng suất lao động nhằm tạo ra lợi nhuận cao hơn, hiệu quả hoạt động của tổ chức cao hơn trên cơ sở trang thiết bị và vốn sẵn có. Khi tham gia vào quá trình lao động, các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ để đạt được kết quả công việc tốt với năng suất lao động cao như: nhu cầu, động cơ lao động, động lực lao động, các quan niệm về giá trị, lý tưởng… Nhu cầu tạo ra động cơ lao động, khi nhu cầu được đáp ứng ở một mức độ nào đó thì người lao động ( NLĐ ) nhận được lợi ích, mà chính lợi ích tạo ra động lực lao động, lợi ích đạt được càng cao thì động lực lao động càng lớn. Muốn tạo động lực lao động thì tổ chức phải có những biện pháp, cách ứng xử nhằm tạo ra động lực lao động. Để hiểu rõ hơn về tạo động lực lao động, việc phân tích các yếu tố liên quan đến tạo động lực lao động là hết sức cần thiết.
Người lao động, nhu cầu, lợi ích, cơ chế tự chủ tài chính 1. Người lao động Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 định nghĩa: “ Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” Người lao động có thể là người: - Lao động phổ thông, lao động chân tay (có tay nghề hoặc không có tay nghề): Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc… - Lao động trí óc (hoặc lao động văn phòng): Nhân viên (công chức, tư 5 chức), cán bộ, chuyên gia,. Nhu cầu Năng suất, chất lượng lao động của mỗi người lao động khác nhau bởi họ có động cơ lao động khác nhau, động cơ lao động càng cao thì năng suất, chất lượng lao động càng cao và ngược lại. “Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của họ như: nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng…” [5,tr142].
Hiểu một cách khác, động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động con người (cộng đồng, tập thể, xã hội), là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra. “ Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển, Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống , những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau ”[Bách khoa toàn thư] Hệ thống nhu cầu rất phong phú và đa dạng, song cơ bản, nó được chia thành 02 nhóm chính là: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất: là những nhu cầu sinh lý như ăn, mặc, ở, đi lại… Nhu cầu tinh thần: là những nhu cầu xã hội -nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện… Nội hàm của các nhu cầu này luôn vận động, biến đổi và cùng với thời gian, có thể phát sinh thêm các nhu cầu mới. Người lao động luôn mong muốn được thỏa mãn càng nhiều nhu cầu càng tốt, nhưng việc thỏa mãn chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và không phải lúc nào họ cũng được thỏa mãn nhu cầu đầy đủ.
Lợi ích Mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc tạo ra đó gọi là lợi ích mà người lao động nhận được. Marx, phạm trù lợi ích, ích lợi, có lợi được sử dụng như là 6 cùng nghĩa và có thể thay thế nhau. Lợi ích không phải là cái gì trừu tượng và có tính chất chủ quan, mà cơ sở của lợi ích là nhu cầu khách quan của con người. Con người có nhiều loại nhu cầu (vật chất, chính trị, văn hóa, tinh thần…), do đó có nhiều loại lợi ích, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa, tinh thần…, trong đó lợi ích kinh tế ở vị trí hàng đầu và là một trong những vấn đề sống còn của sản xuất và đời sống.
Nó được xác định một cách khách quan.Cơ chế tự chủ tài chính Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có thu được hiểu là cơ chế theo đó các đơn vị sự nghiệp công được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình nhưng không vượt quá mức khung do Nhà nước quy định. Hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công đang được thực thi theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ và Thông tư số 71/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 09/08/2006 hướng dẫn thực hiện nghị định số 43. Ngoài ra còn có Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Tổ chức khoa học và công nghệ công lập, chỉ thị số 01/2006/CT-BXD của Bộ xây dựng ngày 22/02/2006 về việc tăng cường quản lý thực hiện quyền tự chủ về tổ chức, biên chế và tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-BYT- BNV của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ điều chỉnh một số điều của nghị định số 43 đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế … 1. Động lực lao động, tạo động lực lao động 1.
Động lực lao động Theo giáo trình quản trị nhân lực của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và Ths Nguyễn Văn Điềm “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [8,tr128], 7 Theo giáo trình hành vi tổ chức của PGS. TS Bùi Bá Khiêm – Trường Đại học Hải Phòng “ Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép nhằm tạo ra năng suất , hiệu quả cao.Thể hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”[7, tr71] Như vậy cũng có thể hiểu: động lực lao động xuất phát từ trong nội tâm của người lao động chứ không phải xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế nào, nó không biểu hiện bằng lời nói mà qua các hành động cụ thể. Động lực lao động không phải là tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc và trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực lao động cao sẽ dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc cao hơn. Tạo động lực lao động “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức” [5,tr 145].
Như vậy, vấn đề tạo động lực lao động chủ yếu là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Để tạo được động lực lao động cho người lao động , tổ chức phải đưa ra những chính sách, cách thức triển khai những chính sách đó để người lao động thực hiện nó một cách tự nguyện và tổ chức phải làm sao để người lao động thực hiện được những ước mơ, hoài bão, kế hoạch trong tương lai của họ, giúp họ thỏa mãn nhu cầu, đạt được những lợi ích nhất định. Để tạo được sự phát triển trong tương lai, tổ chức không thể không quan tâm đến vấn đề tạo động lực lao động. Tuy nhiên, tổ chức sẽ phải lựa chọn những vấn đề ưu tiên giải quyết trước trong phạm vi nguồn lực hạn chế của mình để các phương pháp tạo động lực lao động có thể thực hiện được và đạt được 8 mục tiêu của tổ chức.
Các biện pháp tạo động lực lao động được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và kích thích tinh thần. Lợi ích của động lực lao động và tạo động lực lao động. Đối với người lao động - Động lực lao động là một trong những điều kiện để người lao động làm việc có hiệu quả hơn (tăng năng suất lao động cá nhân). - Động lực lao động cũng là đòn bẩy giúp người lao đông vượt qua được nhiều khó khăn trong công việc, kích thích cho việc ra đời các sáng kiến mới, những biện pháp cải tiến phương pháp làm việc trong sản xuất.Đối với doanh nghiệp - Tạo điều kiện để tăng năng suất lao động ( NSLĐ ) toàn doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Có được một đội ngũ lao động giỏi, trung thành, nhiệt huyết, đồng thời thu hút được các lao động giỏi về làm việc cho tổ chức. - Góp phần nâng cao uy tín, làm đẹp hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường thông qua tuyên truyền của các phương tiện thông tin đại chúng, của các cơ quan chức năng, của chính những người lao động. - Tăng hàm lượng trí tuệ cho doanh nghiệp thông qua các phát minh, sáng kiến. - Cải thiện mối quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động; người lao động với tổ chức; góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp ngày càng phát triển tốt đẹp… 1.
Đối với xã hội Động lực lao động giúp các cá nhân có thể tiến tới các mục đích của mình, thỏa mãn được các nhu cầu đặt ra trong cuộc sống, làm phong phú hơn cuộc sống tinh thần của bản thân và dần hình thành nên những giá trị xã hội mới cho cuộc sống hiện đại. Mặt khác, động lực lao động còn gián tiếp xây dựng xã hội ngày một phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các tổ chức kinh doanh… 9 1. Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1908-1970), nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất.
Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì nhóm nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.