Chương 1 : Giới thiệu đề tài Chương này trình bày các nội dung : lý do hình thành đề tài, tên đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi đề tài, tóm tắt phương pháp thực hiện, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, cấu trúc của báo cáo. - Chương 2 : Cơ sở lý thuyết. Chương này trình bày về một số lý thuyết, các nghiên cứu trước đây về động lực làm việc, mô hình nghiên cứu đề xuất, các giả thuyết về tạo động lực và giới thiệu thang đo sơ bộ. - Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày thiết kế nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, nghiên cứu sơ bộ và chính thức, thiết kế thang đo.
- Chương 4 : Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ tiến hành tổng kết dữ liệu thu thập, kiểm định dữ liệu và phân tích kết quả. - Chương 5 : Kết luận. Tổng kết lại kết quả đạt được cũng như những mặt hạn chế của đề tài. Đồng thời đề xuất hướng phát triển tiếp theo cho đề tài.
Tóm tắt chƣơng 1 : Chương này đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, xuất phát từ xu hướng biến động của môi trường kinh doanh trong xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế toàn cầu đối với các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần và tư yêu cầu nâng cao hiệu quả lao động của doanh nghiệp, nghiên cứu được hình thành với mục tiêu nghiên cứu đóng góp vào cơ sở khoa học để các nhà quản lý có những giải pháp phù hợp nâng cao động lực làm việc của đơn vị mình. 18 CHƢƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ giới thiệu các khái niệm lý thuyết mà đề tài nghiên cứu, một số mô hình nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước, đồng thời trong chương này cũng lập luận các giả quyết và đề xuất mô hình nghiên cứu.1 Các lý thuyết về động lực làm việc 2.1 Động lực làm việc a. Khái niệm Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất. Theo giáo trình QTNL của ThS.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Wiley (1997) cho rằng, để đảm bảo thành công của một tổ chức, nhà quản lý cần thiết phải hiểu rõ tầm quan trọng của việc tạo động lực làm việc cho nhân viên, vì đó chính là chìa khóa để nâng cao chất lượng và hiệu suất công việc. Vì vậy động viên nhân viên là một trong những chức năng quan trọng của quản lý. Helliege et al.
(2001), định nghĩa động lực làm việc của nhân viên như là “áp lực tác động bên ngoài hoặc từ nội tại bên trong con người, là nguyên nhân để nhân viên nỗ lực vì một mục tiêu cụ thể và cách thức thực hiện đã được xác định rõ”. Thành công trong việc tạo động lực làm việc cho nhân viên giúp nhà quản lý khám phá và sử dụng được hết tiềm năng của nhân viên, đảm bảo được chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, và nhờ vậy đảm bảo thành công của tổ chức. Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tao ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.
b: Bản chất của động lực Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy được động lực làm việc có những bản chất sau : 19 Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thai độ của họ đối với tổ chức. điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ. Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vao bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất.
Động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao dộng chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Tạo động lực trong lao động.
Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó. Như vậy “Tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc”. Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đảy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động. * Các yếu tố tạo động lực trong lao động a: Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động.
- Hệ thống nhu cầu của người lao động : Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống của mỗi con người như ăn, mặc, đi lại, chỗ ở …Đây là nhu cầu chính và cũng là động lực chính khiến người lao động phải làm việc. Cuộc sống ngày càng được nâng cao nhu cầu của con người cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu về lượng sang nhu cầu về chất. 20 Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con người đáp ứng được những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nó bao gồm : nhu cầu học tập để nâng cao trình độ, nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội, nhu cầu công bằng xã hội.
Nhu cầu vật chất và tinh thần của con người có quan hệ biên chứng với nhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất- ý thức. Đây là hai nhu cầu chính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo động lực cho lao động. - Các giá trị thuộc về cá nhân người lao động. + Năng lực thực tế của người lao động: là tất cả những kiến thức, kinh nghiêm mà người lao động đã đúc kết được trong suốt quá trinh học tập và lao động.
Mỗi người lao động có những khả năng riêng nên động khiến họ làm việc tích cực hơn cũng khác nhau, khi họ có đầy đủ điều kiện để phát huy khả năng của mình thì động lực lao động sẽ tăng lên. + Tính cách cá nhân của mỗi người lao động: Đây là yếu tố cá nhân bên trong mỗi con người và được thể hiện qua quan điểm của họ trước một sự việc, sự kiện nào đó. Quan điểm của người lao động có thể mang tính tích cực hoạc tiêu cực do vậy tạo động lực cho người lao động còn chịu một phần ảnh hưởng từ tính cách của họ. - Các yếu tố bên trong công việc: Các yếu tố phụ thuộc vào bản chất công việc mà người lao động đang làm.
Đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của người lao động, khi người lao động cảm thấy công việc đang làm là phù hợp với mình họ sẽ tích cực lao động để đạt được mục tiêu của mình ngược lại khi công việc không phù hợp người lao động dễ dẫn đến tình trạng chán nản, không tập trung vào công việc. - Các yếu tố thuộc môi trường quản lý : tất cả những công tác quản lý trong tổ chức đề có những ảnh hưởng nhất định tới động lực làm việc của người lao động, cụ thể : điều kiện và chế độ thời gian lao động, tổ chức phục vụ nơi làm việc, thù lao lao động, đánh giá kết quả làm việc, kỷ luật lao động, công tác đào tạo cho lao động, văn hóa trong tổ chức.2 Thuyết về các cấp bậc nhu cầu của Maslow (1943) Abraham Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ, gốc Nga. Năm 1943 bắt đầu nghiên cứu lý thuyết thang bậc nhu cầu. Đầu tiên ông chia nhu cầu của con người thành 5 bậc, đến năm 1970 chia thành 7 bậc, sau này các nhà kinh tế học hiện đại giới thiệu thuyết của ông thường là 5 bậc.
Theo ông, hành vi con người phụ thuộc vào các động cơ bên trong, động cơ bên trong được hình thành từ những nhu cầu của con người. 21 Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao. Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: Hình 2.1 Tháp nhu cầu của Maslow (1) Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học: là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác. (2) Nhu cầu về an ninh và an toàn: là các nhu cầu như ăn ở, sinh sống an toàn, không bị đe đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ.