Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và nội dung phòng ngừa chuẩn 1. Khái niệm phòng ngừa chuẩn Phòng ngừa chuẩn (PNC) là tập hợp các biện pháp phòng ngừa cơ bản áp dụng cho tất cả người bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phụ thuộc vào chẩn đoán, tình trạng nhiễm trùng người bệnh, dựa trên nguyên tắc coi tất cả máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơ lây truyền bệnh. Thực hiện phòng ngừa chuẩn giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm với máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) qua da không lành lặn và qua niêm mạc [4], [5].
Các nội dung phòng ngừa chuẩn Các nội dung phòng ngừa chuẩn được quy định tại Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế, bao gồm 9 nội dung [3]: 1. Vệ sinh tay. Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân. Vệ sinh hô hấp và vệ sinh khi ho.
Sắp xếp NB. Tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn. Vệ sinh môi trường. Xử lý dụng cụ.
Xử lý chất thải. Vệ sinh tay a. Khái niệm Vệ sinh tay: Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn. Rửa tay: Là rửa tay với nước và xà phòng thường.
Rửa tay khử khuẩn: Là rửa tay với nước và xà phòng khử khuẩn. 3 Chà tay khử khuẩn: Là chà toàn bộ bàn tay bằng dung dịch VST chứa cồn (không dùng nước) nhằm làm giảm lượng vi khuẩn có trên bàn tay. Phương tiện VST: Hóa chất VST + Xà phòng thường: Dạng bánh hoặc dạng dung dịch không chứa tác nhân diệt khuẩn. + Xà phòng khử khuẩn: Dạng dung dịch có chứa chloherxidine hoặc iodine.
+ Dung dịch VST chứa cồn (isopropanol, ethanol, n-propanol hoặc kết hợp hai trong các thành phần này hoặc kết hợp với 1 chất khử khuẩn). Bồn rửa tay: Vòi cấp nước có cần gạt hoặc khóa vặn hoạt động tốt; bồn sạch, quanh bồn không để phương tiện, đồ vật khác. Nước rửa tay: Nước sạch qua vòi có khóa hoạt động tốt. Khăn lau tay: Khăn sạch sợi bông hoặc khăn giấy sử dụng một lần.
Nếu là khăn sợi bông, nếu sử dụng lại cần giặt khử khuẩn sau mỗi lần sử dụng, được đựng trong hộp cấp khăn kín tại mỗi điểm rửa tay. Trang bị phương tiện VST Phương tiện VST thường quy phải luôn có sẵn ở mọi buồng phẫu thuật, thủ thuật, mọi khu vực chăm sóc NB, khu hành chính, khu tiếp đón NB và các buồng vệ sinh. Tại các khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao, các giường NB nặng, xe tiêm, xe thủ thuật, buồng phẫu thuật, thủ thuật cần được trang bị dung dịch VST tay chứa cồn. Các buồng thủ thuật, buồng hành chính, buồng NB nặng, khu tiếp đón NB và khu vệ sinh phải có bồn rửa tay [5][7].
Thời điểm VST + Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB. + Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/ vô khuẩn. + Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể. + Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB.
+ Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh. Kỹ thuật VST Hình 1. Các bước rửa tay thường quy Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau. Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại.
Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón. Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại. Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại.
Khi thực hiện quy trình VST thường quy cần lưu ý một số điểm sau: Lựa chọn đúng phương pháp VST. Lấy đủ 3ml - 5ml dung dịch VST cho mỗi lần VST. Tuân thủ đúng thời gian VST: chà tay với dung dịch chứa cồn theo quy trình 6 bước đạt từ 20-30 giây [5]. Sử dụng phương tiện phòng hộ.
* Chỉ định sử dụng găng: - Găng vô trùng được mang trong quá trình làm thủ thuật/ phẫu thuật nhằm mục đích ngăn ngừa lây truyền vi sinh vật cho NB. - Mang găng sạch khi chăm sóc, làm các thủ thuật chuyên môn và dự kiến tay của NVYT có thế tiếp xúc với máu, dịch sinh học, các chất tiết, các màng niêm mạc và da không nguyên vẹn của NB hoặc khi da tay NVYT bị xây xước. - Mang găng vệ sinh khi làm vệ sinh, thu gom chất thải, thu gom đồ vải, xử lý dụng cụ y tế và các dụng cụ chăm sóc NB. 5 - Không mang một đôi găng để chăm sóc cho nhiều người bệnh.
- Mang găng là biện pháp hỗ trợ, không thay thế được cho rửa tay. - Găng dùng một lần không nên đem giặt hay dùng lại vì dịch có thể đi vào qua các lỗ thủng không nhìn thấy trên găng. - Không cần mang găng trong các chăm sóc thông thường nếu việc tiếp xúc chỉ giới hạn ở vùng da lành, như vận chuyển NB, đo huyết áp, phát thuốc. - Nên thay găng: khi nghi ngờ găng thủng hay rách và giữa các hoạt động chăm sóc trên cùng một NB mà có tiếp xúc các chất có thể chứa mật độ vi sinh vật cao.
- Tháo găng trước khi tiếp xúc với các bề mặt sạch trong môi trường. - Không sát khuẩn bên ngoài găng để dùng tiếp. - Rửa tay sau khi tháo bất kỳ 1 loại găng nào. - Trong trường hợp không đủ găng, có thể thay thế găng bằng khăn giấy trong trường hợp nguy cơ tiếp xúc với dịch tiết thấp.
Mang khẩu trang - Mang khẩu trang y tế thông thường, mang khẩu trang y tế khi dự kiến sẽ bị bắn máu, dịch tiết vào mặt mũi trong chăm sóc NB nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp có nguy cơ lây nhiễm tiềm tàng, hoặc khi bản thân đang có bệnh đường hô hấp cần hạn chế lây nhiễm cho người khác. - Cách mang khẩu trang y tế thông thường: Đặt khẩu trang theo chiều như sau: thanh kim loại nằm trên và uốn ôm khít sống mũi, nếp gấp khẩu trang theo chiều xuống, mặt thấm tiếp xúc với người đeo, mặt không thấm nằm bên ngoài. Đeo dây chun vào sau tai, nếu là dây cột thì cột một dây trên tai và một dây ở cổ. Khẩu trang phải che kín miệng và mũi.
- Cách tháo khẩu trang: Bề mặt trước khẩu trang có thể ô nhiễm nên không được chạm vào mặt trước khẩu trang khi tháo bỏ. Nắm dây trên và dây dưới khẩu trang và nhấc lên, bỏ vào thùng chất thải. Sử dụng các phương tiện che mặt và mắt. Một số loại kính phòng hộ Kính bảo hộ, mạng che mặt khi làm các thủ thuật có nguy cơ bắn tóe máu và dịch vào mắt như: đỡ đẻ, phá thai, đặt nội khí quản, hút dịch, nhổ răng… d.
Mặc áo choàng, tạp dề. Khi làm các thủ thuật dự đoán có máu và dịch cơ thể của NB có thể bắn lên đồng phục NVYT như: cọ rửa dụng cụ y tế nhiễm khuẩn, khi thu gom đồ vải dính máu. Một số áo choàng 1. Thực hiện quy tắc vệ sinh hô hấp [3] - Cơ sở y tế cần xây dựng kế hoạch quản lý tất cả các NB có các triệu chứng về đường hô hấp trong giai đoạn có dịch.
- Tại khu vực tiếp nhận người bệnh cần có hướng dẫn để đưa NB có các triệu chứng về đường hô hấp vào khu vực riêng. 7 - Mọi NB có các triệu chứng về đường hô hấp đều phải tuân thủ theo các quy tắc về vệ sinh hô hấp. Sắp xếp người bệnh thích hợp[3] - Nên sắp xếp người bệnh không có khả năng kiểm soát dịch tiết, chất bài tiết, dịch dẫn lưu vào phòng riêng. - Sắp xếp người bệnh dựa vào các nguyên tắc: + Đường lây truyền của tác nhân gây bệnh; + Yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh; + Khả năng mắc nhiễm khuẩn bệnh viện 1.
Tiêm an toàn và phòng ngừa phơi nhiễm do vật sắc nhọn. [3] - Đào tạo cập nhật các kiến thức, thực hành về tiêm an toàn cho NVYT. - Cần cung cấp đủ các phương tiện tiêm thích hợp (xe tiêm, bơm kim tiêm, kim lấy thuốc, cồn sát khuẩn tay, hộp đựng vật sắc nhọn….) - Thực hành tiêm an toàn. + Thực hiện đúng các quy trình tiêm theo hướng dẫn.
+ Thực hiện các thao tác an toàn sau khi tiêm: Không bẻ cong kim, không dùng hai tay đậy nắp kim tiêm, không tháo kim tiêm bằng tay, không cầm bơm kim tiêm nhiễm khuẩn đi lại nơi làm việc…. + Nếu cần phải đậy nắp kim, dùng kỹ thuật xúc một tay để phòng ngừa tổn thương. + Có thể sử dụng các dụng cụ tiêm có đặc tính bảo vệ trong trường hợp nguy cơ bị kim đâm cao. + Giảm số lượng mũi tiêm không cần thiết.
Sử dụng thuốc bằng đường uống khi có thể, lấy bệnh phẩm tập trung để tránh lấy máu nhiều lần. + Thực hành phẫu thuật/ thủ thuật an toàn. + Khi thực hiện các thủ thuật phải luôn luôn chú ý vào trường thủ thuật và các thủ thuật sắc nhọn. + Nên mang hai găng trong phẫu thuật.
Có thể áp dụng một số kỹ thuật thực hành an toàn như dùng kỹ thuật mổ ít xâm lấn nhất và dùng phương pháp đốt điện để rạch da thay cho dùng dao mổ, dùng kẹp để đóng vết mổ thay vết khâu da như kinh điển. - Quản lý vật sắc nhọn. 8 + Tránh truyền tay các vật sắc nhọn và nhắc đồng nghiệp thận trọng mỗi khi chuyển vật sắc nhọn, đặt vật sắc nhọn vào khay để đưa cho đồng nghiệp. + Sắp xếp nơi làm việc sao cho tất cả các dụng cụ đều trong tầm với của cả hai tay và phải có thùng thu gom vật sắc nhọn được để sát bên để giúp loại bỏ các vật sắc nhọn nhanh và an toàn.
Vệ sinh môi trường[3] - Hàng ngày phải làm sạch và khử khuẩn các bề mặt dễ bị nhiễm vi sinh vật như các vật dụng xung quanh NB : thành giường, tủ đầu giường và các vật dụng thường xuyên chạm tay vào như tay nắm cửa, các vật dụng trong nhà vệ sinh. - Làm vệ sinh môi trường khoa phòng sớm trước giờ khám chữa bệnh. Không làm vệ sinh trong buồng bệnh khi bác sĩ điều dưỡng đang làm thủ thuật chuyên môn. - Cần kiểm tra hóa chất và nồng độ hóa chất sử dụng trong vệ sinh làm sạch.
- Cần chú ý làm sạch và khử khuẩn đồ chơi của trẻ em.