Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Khái niệm về nhân viên y tế Nhân viên y tế (NVYT) được Bộ y tế Việt Nam định nghĩa: “Nhân viên y tế là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế, kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng” (7). Ở cơ sở y tế có nhiều lao động theo các bộ phận với các chức năng khác nhau như bộ phận khám và điều trị cho người bệnh là Bác sĩ, Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Kỹ thuật viên và Hộ lý…Bộ phận cung cấp thuốc và trang thiết bị y tế là Dược sĩ, Kỹ thuật viên.… Khái niệm về NVYT trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Tần được làm rõ và cụ thể hơn “Nhân viên y tế là tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân” (8).
Như vậy khái niệm về NVYT trong nghiên cứu này được hiểu NVYT là toàn bộ số lượng người làm việc, đang công tác trong các cơ sở y tế. Không phân biệt công hay tư, đã được tuyển dụng hoặc đang hợp đồng lao động. Trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động cung cấp dịch vụ y tế của cơ sở y tế mà họ đang làm việc. Khái niệm về căng thẳng 1.
Sơ lược một số nhận định và định nghĩa về căng thẳng Thuật ngữ căng thẳng hay còn gọi là Stress được sử dụng với nghĩa là những điều khó chịu và áp lực cho cá nhân (9,10). Có rất nhiều nhận định và định nghĩa về căng thẳng khác nhau. Mặc dù chưa có định nghĩa nào về căng thẳng được các nhà nghiên cứu chấp nhận là định nghĩa chung, căng thẳng có thể vẫn là một khái niệm vô định hình được sử dụng đa dạng trong cộng đồng khoa học (10). Vì vậy, khi định nghĩa về căng thẳng, Amad vào năm 1960 cho rằng, căng thẳng là bất kỳ điều kiện nào khiến làm rối loạn hoạt động bình thường, Seley vào năm 1974 định nghĩa căng 5 thẳng là phản ứng của cơ thể với bất kỳ nhu cầu nào (9).
Mcgrath trong năm 1976 đã đưa ra khái niệm về căng thẳng là sự tương tác giữa ba yếu tố: Nhu cầu nhận thức, khả năng nhận thức để đối phó và nhận thức về tầm quan trọng của việc có thể đối phó với yêu cầu (11). Như vậy, căng thẳng có thể được hiểu là mức độ mà cá nhân cảm thấy quá tải hoặc không thể đối phó được, do những áp lực không thể kiểm soát (9). Còn theo lazarus và Folkman, khi yêu cầu vượt quá khả năng nhận thức của một cá nhân, và khi đó bản thân cá nhân không có sự lựa chọn đối phó phù hợp với yêu cầu đó, thì sẽ dẫn đến căng thẳng cho cá nhân (12). Điều đó có nghĩa, căng thẳng là sản phẩm của sự tương tác giữa cá nhân và môi trường, mà trung gian bởi nhận thức, thẩm định và đối phó, trong đó đối phó có thể tập trung vào cảm xúc hoặc tập trung vào vấn đề (9,12).
Căng thẳng còn là phản ứng của cơ thể đối với bất kỳ thay đổi nào cần điều chỉnh hoặc đáp ứng. Cơ thể phản ứng với các thay đổi này bằng các phản ứng về thể chất, tinh thần, cảm xúc. Trong phạm vi mà các cá nhân lựa chọn các phản ứng của bản thân không phù hợp để đối phó với các tác động là các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống, đặc biệt là khi kết hợp với các lỗ hổng cá nhân hiện có, sự căng thẳng nội tại này, có thể làm cạn kiệt các nguồn ứng phó có ở cá nhân dẫn đến kỹ năng giải quyết vấn đề kém (13). Trong cuộc sống hàng ngày, căng thẳng là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý và sinh lý.
Căng thẳng đặt chủ thể vào một quá trình dàn xếp thích ứng, tạo một cân bằng mới cho cơ thể sau khi chịu những tác động từ môi trường, nói cách khác phản ứng với căng thẳng góp phần làm cho con người thích nghi (14). Một số mô hình phản ứng trước căng thẳng Có nhiều mô hình căng thẳng được mô tả, ví dụ như trước tác động của các yếu tố gây căng thẳng, cá nhân phải trải qua ba giai đoạn là giai đoạn báo động, giai đoạn kháng cự và cuối cùng là giai đoạn kiệt sức (9). Vào năm 1989 Hancock và Warm đã xây dựng mô hình căng thẳng được gọi tên là “ Bộ ba căng thẳng” gồm: Các đặc điểm đầu vào (các yếu tố gây căng thẳng từ môi trường) tiếp theo là các tính năng thích ứng (đánh giá nhận thức) và cuối cùng là các tính năng đầu ra (thay 6 đổi các chức năng cơ thể và cuối cùng là hiệu suất hoạt động). Wofford và Daly vào năm 1997 cũng đưa ra mô hình con người phản ứng với căng thẳng trải qua ba lĩnh vực.
Đó là kích thích sinh lý như nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ… phản ứng tâm lý tức là không hài lòng, lo lắng, khó ngủ, kích thích, trầm cảm… rồi đến phản ứng hành vi như hiệu suất công việc, rối loạn nhu cầu sinh hoạt ăn uống, gây hấn hay khó khăn trong xử lý các mối quan hệ xã hội…(11). Nguyên nhân dẫn đến căng thẳng và những hậu quả tiêu cực Các tình huống gây căng thẳng, xuất phát từ các hoạt động trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Vì vậy nguyên nhân dẫn đến căng thẳng gồm yếu tố bên ngoài là các yếu tố tác động từ cuộc sống, từ công việc và yếu tố bên trong là các cảm xúc, suy nghĩ nội tâm của mỗi cá nhân. Từ các yếu tố bên ngoài gây căng thẳng sẽ dẫn đến các yếu tố căng thẳng bên trong của mỗi cá nhân.
Căng thẳng được chia thành hai loại, ở loại tích cực, căng thẳng làm động lực để quá trình nhận thức của mỗi người đạt được hiệu quả cao. Tuy nhiên, ở loại tiêu cực khi mà trạng thái tâm lý mệt mỏi, suy kiệt khiến nhân cách bị ảnh hưởng, biểu hiện về mặt bệnh lý của cơ thể. Khi bị tác động bởi một yếu tố từ bên ngoài môi trường sẽ dẫn đến căng thẳng về tâm lý hoặc căng thẳng về thể chất. Tác động đến con người thông qua một hệ thống căng thẳng được mô tả như sau: 7 Hình 1.
Hệ thống căng thẳng Nguồn: Tổng quan toàn diện về căng thẳng theo sinh học thần kinh: Khái niệm cơ bản và ý nghĩa Lâm sàng (A Comprehensive Overview on Stress Neurobiology: Basic Concepts and Clinical Implications ) (15). Xử lý và đối phó với các tình huống căng thẳng đòi hỏi sự tham gia của các cơ chế phức tạp tích hợp giữa não và cơ thể. Não có khả năng phát hiện các sự kiện là mối đe doạ thực sự hoặc tiềm ẩn hay chính là các tác nhân gây căng thẳng về thể chất hoặc tâm lý. Phản ứng căng thẳng sẽ kích hoạt hai hệ thống: Trục giao cảm thượng thận tiết ra hormon noradrenaline và norepinephrine; Trục dưới đồi- tuyến yên- thượng thận tiết ra glucocorticoid.
Khi hai trục này được kích hoạt, chúng sẽ tạo ra một phản ứng phối hợp bắt đầu trong vài giây và có thể kéo dài trong vài ngày, cung cấp các phản hồi nhanh giúp đưa ra được cách đối phó và khôi phục lại sự cân bằng cho cơ thể. Để đạt được điều này, cơ thể sẽ huy động năng lượng, thay 8 đổi trao đổi chất, kích hoạt hệ thống miễn dịch và ức chế hệ thống tiêu hoá và sinh sản. Não bộ sẽ có các tác động ngắn hạn hoặc dài hạn thông qua các cơ chế không di truyền, gen và biểu sinh. Dẫn đến những thay đổi của tế bào và bộ máy cơ thể cũng như tính biến đổi và thích nghi của tế bào thần kinh và các synap thần kinh.
Những tác động cơ thể - não này làm trung gian cho những thay đổi về sinh lý và hành vi của cá nhân bị căng thẳng dẫn đến sự thích nghi của cơ thể để duy trì sự tồn tại của cá nhân (15). Trong thực tế khi bị tác động bởi một tình huống căng thẳng, trạng thái “sững sờ” xuất hiện ở cá nhân bị tác động. Căng thẳng gây lên các hậu quả không tốt cho cá nhân. Biểu hiện về cảm xúc như cáu gắt, lo lắng và khó chịu, chán nản, e ngại, thiếu tự tin hay thờ ơ với các vấn đề trong cuộc sống.
Biểu hiện về nhận thức như mất tập trung, thiếu động lực, khó khăn với quá trình suy nghĩ, giảm trí nhớ, ra quyết định kém. Biểu hiện về cơ thể như người mệt mỏi, đau đầu, rối loạn giấc ngủ, rối loạn tiêu hoá, tăng huyết áp. Ảnh hưởng đến chức năng sống gây lên trạng thái choáng váng, chóng mặt, ù tai và ngất xỉu hoặc gây lên tăng tiết mồ hôi đặc biệt ở lòng bàn tay. Căng thẳng cũng ảnh hưởng đến hệ miễn dịch làm cá nhân hay bị cảm lạnh hoặc dị ứng không rõ nguyên nhân.
Dẫn đến các biểu hiện về hành vi như mất ngủ, ăn không ngon miệng, lạm dụng chất kích thích, dễ bị tai nạn do thiếu tập trung, thích sự cô độc (14,16). Khi những căng thẳng trở thành mãn tính có thể gây lên các bệnh lý về sức khoẻ tâm thần. Căng thẳng được hiểu là một trạng thái tâm lý và sinh lý, đặc trưng bởi các yếu tố về cơ thể, cảm xúc, nhận thức và hành vi. Khi con người bị tác động bởi một hoặc một số yếu tố khác nhau.
Căng thẳng còn là trải nghiệm của những kích thích lớn và nhỏ, khó chịu và thất vọng trước phức tạp của cuộc sống hàng ngày (17). Trong nghiên cứu này, khái niệm căng thẳng được hiểu là một phản ứng sinh lý, tâm lý và hành vi được kích hoạt bởi các tình huống đe doạ, mất mát hoặc thách thức (17). Căng thẳng trong công việc và căng thẳng ở nhân viên y tế. Khái niệm về căng thẳng trong công việc Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), trong công việc thì các yếu tố như tổ chức công việc, thiết kế công việc và mối quan hệ trong lao động là những nguyên nhân dẫn đến căng thẳng, nên còn được gọi là căng thẳng trong công việc.
Khi yêu cầu của công việc không phù hợp hoặc vượt quá khả năng đáp ứng của người lao động, khi cơ sở vật chất như môi trường vật lý, các trang thiết bị hỗ trợ cho người lao động hoàn thành công việc, nguồn nhân lực thiếu.