CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ CHI Camellia Giới : Plantae Bộ : Ericales Họ : Theaceae Chi : Camellia Camellia là một chi thực vật có hoa trong họ Theaceae phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở Châu Á. Camellia có nguồn gốc ở vùng Assam (Ấn Độ). Cũng có giả thiết cho rằng cây xuất xứ từ vùng Vân Nam (Trung Quốc) và Bắc Việt Nam.
Trên thế giới có khoảng 280 loài thuộc Chi Camellia, ở Việt Nam, hiện đã biết 68 loài trong đó có tới 15 loài đặc hữu [1]. Các loài trong chi trà là các cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ và thường xanh, cao khoảng 2–20 m. Lá sắp xếp theo kiểu so le, lá đơn, dày, mép lá có khía, thông thường có mặt ngoài bóng láng, dài 3–17 cm. Hoa lớn và dễ thấy, đường kính 1–12 cm, với 5–9 cánh hoa; có màu từ trắng tới hồng hay đỏ, còn màu vàng có ở một số loài.
Quả là loại quả nang khô được chia thành 1–5 ngăn, mỗi ngăn chứa 1–8 hạt [2]. GIỚI THIỆU VỀ CÂY TRÀ SHAN TUYẾT (Camellia sinensis var. Thực vật học Tên khoa học: Camellia sinensis var. Tên thường gọi: Trà (chè) Shan tuyết hay trà tuyết Giới : Plantae Bộ : Ericales Họ : Theaceae Chi : Camellia luan an 4 1.
Đặc điểm thực vật Trà Shan tuyết có đặc điểm là cây gỗ thường xanh, cao 7-16m, gốc lớn có đường kính 1m, tán rộng khoảng 8m. Trà có lá dài 7-16cm, rộng 2,8- 5,5cm, có chóp nhọn dài thành đuôi, gân bên 9-13 đôi, cuống lá khoảng 0,4- 1cm. Hoa 1-4; lá đài 5, mặt trong không lông; số cánh hoa từ 7-9; nhị nhiều; bầu 3-5 lá noãn, vòi nhụy 3, rời ở đỉnh. Quả nang rộng 3-4 cm.
Trà Shan tuyết là loài cây ưa lạnh, thường gặp ở các vùng núi có độ cao từ 800-1000m. assamica phân bố chủ yếu ở Ấn Độ, Mianma, Nam Trung Quốc. Ở nước ta, loài cây này được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Yên Bái [3]. Cây trà Shan tuyết (C.
assamica) luan an 5 1. Bộ phận dùng, tính vị, tác dụng, công dụng 1. Bộ phận dùng Búp trà, lá trà non tươi hoặc đã chế biến khô và quả. Tính vị, tác dụng Trà có vị đắng, chát, hơi ngọt, tính mát, vào kinh can, thận có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu cơm, lợi tiểu, làm cho đầu não được thư thái, da thịt mát mẻ, khỏi chóng mặt, xây xẩm, bớt mụn nhọt, cầm tả lỵ [3].
Công dụng Trà Shan tuyết được chế biến thành trà mạn, trà xanh hoặc trà đen có chất lượng cao dùng làm thức uống. Bên cạnh đó, lá và quả trà tuyết còn được dùng làm thuốc. Ở Vân Nam (Trung Quốc), trà Shan tuyết được dùng để trị đi đái nước tiều vàng, cảm nắng, nóng miệng, khát, sa khí bụng đái, dịch tả khan và bệnh lỵ. Dùng trong dạng thuốc sắc với liều 4-8 g [3].
Tác dụng dược lý Cũng như các loài thuộc họ trà, trà Shan tuyết là loại nước uống tốt cho sức khỏe. Từ lâu, trà Shan tuyết nói riêng và trà nói chung đã được sử dụng như là một phương thuốc trong y học phương đông. Căn cứ vào các sách đông y dược, ghi chép qua các thời đại và thực tiễn chứng minh chẳng những bảo vệ sức khỏe mà còn có tác dụng điều trị nhiều loại bệnh, nên người ta coi trà là loại thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên các hiểu biết về cơ chế tác động của lá trà mới được bắt đầu nghiên cứu mạnh mẽ trong thế kỉ 20.
Trước đây, tác dụng của trà được cho rằng do tác động của các thành phần caffeine và vitamin C. Bắt đầu từ khoảng thập niên 70 của thế kỉ 20, việc nghiên cứu chi tiết về trà đã chỉ ra rằng những tác dụng về mặt dược lý của trà là do sự có mặt của nhiều nhóm hợp chất như: flavonoid, terpenoid, alkaloid, lipid, tinh dầu, acid amin và nhiều sinh tố cùng các nguyên tố vi lượng như P, sắt, iod, Mg, Cu,… tổng cộng trên 300 loại thành phần. Các thành phần này có tác dụng trọng yếu trong phòng và chữa bệnh đối với cơ thể con người. Một số tác dụng cụ thể của trà Shan tuyết: luan an 6 - Tinh thần nâng cao, đầu óc tỉnh táo: khi đầu óc xây xẩm, tinh thần mệt mỏi, người ta uống một chén trà mới pha, sẽ cảm thấy tinh thần sảng khoái.
- Thanh lợi đầu và mắt: uống trà lâu dài có thể thanh lợi đầu và mắt, đạt tác dụng làm tinh thần sảng khoái, mắt tinh, tai sáng. Trong trà có chứa nhiều thành phần dinh dưỡng có quan hệ tới thị lực như là: tiền sinh tố A (β − caroten), vitamin B1, B2, và C, đều là những chất cần thiết duy trì thị lực. - Tiểu thử giải khát: sau khi uống trà nóng, tinh dầu thơm trong trà và caffeine mau phát huy tác dụng, làm giãn huyết quản, mở tuyến mồ hôi, thân thể hơi toát mồ hôi, tán phát nhiệt lượng trong cơ thể, do đó đạt được mục đích tiêu thử giáng thấp thanh nhiệt, sau khi uống trà nóng gia tăng được lượng nước tiểu, làm cho tiểu tiện bài tiết điều hòa, tự nhiên sẽ có bộ phận nhiệt lượng theo đường tiểu tiện tiết ra ngoài, làm cho ra mồ hôi. Ngoài ra, làm co dãn cơ trơn dạ dày, ruột giãn giải co thắt trường vị, cho nên uống trà điều trị được thử nhiệt, sa khí, đau bụng.
- Giảm béo: trà xanh chứa nhiều thành phần như chứa chất dẫn phenol, flavonoid, quereetin cùng nhiều loại sinh tố, nhất là vitamin C với lượng lớn. dẫn chất phenol trong lá trà giáng giải chất mỡ, flavonoid, quereetin hỗ trợ việc giáng thấp cholesterol. Vitamin C hỗ trợ lợi tiểu làm cholesterol bài tiết ra ngoài nhanh chóng. Các vitamin khác cải thiện cơ năng chuyển hóa của cơ thể, hỗ trợ và để phòng mạch máu bị xơ cứng.
Trong lá chè có diệp lục (chlorophyll) sau khi vào cơ thể, sẽ loại cholesterol từ thức ăn, ngăn cản tiêu hóa hấp thụ cholesterol trong cơ thể [4]. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA LOÀI Camellia sinensis var. assamica Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài C. Thành phần hóa học chủ yếu của chi trà nói chung cũng như của loài trà Shan tuyết nói riêng là các hợp chất flavonoid và terpenoid.
Dưới đây là tổng quan nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài C. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Các hợp chất flavonoid Năm 1989, Hashimoto và cộng sự đã phân lập được hai tư flavan từ lá của loài Camellia sinensis var. Các hợp chất đó được xác định là: assamicain A-C (1-3), (-)-epiafzelechin (4), (-)-epicatechin (5), (-)- epigallocatechin (6), epiafzelechin 3-O-gallate (7), (-)-epicatechin 3-O-gallate (8), (-)-epigallocatechin 3-O-gallate (9), (-)-epicatechin 3,5-di-O-gallate (10), (-)-epigallocatechin 3,5-di-O-gallate (11), (-)-epigallocatechin 3,3′-di-O- gallate (12), (-)-epigallocatechin 3,4′ di-O-gallate (13), (-)-epigallocatechin 3- O-caffeoate (14), procyanidin B-2 (15), procyanidin C-1 (16), procyanidin B- 3 (17), procyanidin B-4 (18), catechin-(4α-8)-epigallocatechin (19), gallocatechin-(4α-8)-epicatechin (20), prodelphinidin B-4 (21), theaseninsin A (22), theaseninsin B (23) và desfalloyl theasinensin F (24) [5].
luan an 8 Các nhà khoa học Trung Quốc đã tách được hai flavan-3-ol thay thế 8- C (25-26), puerin A (25) và puerin B (26), cùng năm hợp chất flavonoid khác (27-31) bao gồm, cinchonain epicatechin-[7,8-bc]-4α-(4-hydroxyphenyl)- dihydro-2(3H)-pyranone (27), cinchonain Ib (28), (-)-epicatechin-8-C-β-D- glucopyranoside (29), gallocatechin (30) và myricetin (31) từ lá cây C. luan an 9 Từ lá trà C. assamica, Tao và cộng sự đã phân lập được năm hợp chất flavan-3-ol (32-36), puerin C-F (32-35) có tên gọi tương ứng là (+)- gallocatechin-[8,7-e]-4α-(2,4,5-tri-hydroxyphenyl)-dihydro-2(3H)-pyranone (32), (-)-gallocatechin-[8,7-e]-4α-(2,4,5-trihydroxyphenyl)-dihydro-2(3H)- pyranone (33), (-)-epigallocatechin-[8,7-e]-4β-(2,4,5-trihydroxyphenyl)- dihydro-2(3H)-pyranone (34), (+)-epigallocatechin-[8,7-e]-4β-(2,4,5- trihydroxyphenyl)-dihydro-2(3H)-pyranone (35) và (+)-catechin (36) [7]. Năm 2014, Tian và cộng sự đã phân lập được mười bảy hợp chất từ lá trà C.
Các hợp chất này được xác định là: 8- carboxymethyl-(+)-catechin (37), 8-carboxymethyl-(+)-catechin methyl ester luan an 10 (38), 6-carboxymethyl-(+)-catechin (39), 6-carboxyl-(-)-gallocatechin (40), 8- carboxyl-(+)-catechin (41), (+)-catechin-8-O-β-D-glucopyranoside (42), (−)- epicatechin-8-C-β-D-glucopyranoside (43), vicenin-2 (44), isoschaftoside (45), 2′′-O-β-D-glucopyranosylvitexin (46), quercetin 4′-O-α-L- rhamnopyranosyl-3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranoside (47), rutin (48), nicotifiorin (49), myricetin 3-O-β-D-glucopyranoside (50), myricetin 3-O-β-D-galactopyranoside (51), quercetin 3-O-β-D- glucopyranoside (52) và quercetin 3-O-β-D-galactopyranoside (53). Trong đó, các hợp chất 40 và 42-53 được thử nghiệm hoạt động cấp tính về độ nhạy insulin trong các tế bào mỡ 3T3-L1 biệt hóa, nhưng không có chất nào thể hiện hoạt tính sinh học ở nồng độ 10 μM [8]. Theo nghiên cứu của Wang và cộng sự đã tiến hành phân lập các hợp chất từ lá trà C. assamica và thu được tám dẫn xuất flavan-3-ol được thay thế 8-C N-ethyl-2-pyrrolidinone (puerin I-VIII) (54-61).
Các hợp chất này được đánh giá một số hoạt tính sinh học. Kết quả chỉ ra rằng các purin I-IV có tác dụng bảo vệ tiềm năng đối với các tổn thương tế bào nội mô luan an 11 vi mạch (HMEC) do H2O2 gây ra tốt hơn so với các polyphenol trong các loại trà khác [9]. Năm 2017, nhóm tác giả Wang đã phân lập được mười sáu hợp chất flavonoid được xác định là (-)-epiafzelechin (4), (-)-epicatechin (5), (-)- epigallo-catechin (6), (-)-epiafzelechin-3-O-gallate (7), (-)-epicatechin-3-O- gallate (8), (–)-epigallo-catechin-3-O-gallate (9), gallocatechin (30), (+)- catechin (36), (-)-epicatechin-3-O-(Z)-coumarate (62), (-)-epicatechin-3-O- (E)-coumarate (63), (-)-epicatechin-3-O-(E)-caffeate (64), epicatechin-3-O-p- hydroxybenzoate (65), epicatechin-3-O-p-hydroxybenzoate (66), (+)- catechin-3-O-gallate (67), (+)-epiafzelechin-3-O-gallate (68) và (+)- gallocatechin-3-O-gallate (69) từ dịch chiết nước của trà C. Đồng thời, dịch chiết của trà này và các phân đoạn của nó đã được đánh giá hoạt tính ức chế α-glucosidase và lipase.
Hợp chất 9 cho thấy tác dụng ức chế sucrase với giá trị IC50 là 32.5 µmol/L và ức chế maltase với giá trị IC50 là 1. Các hợp chất 8, 9, 67 và 68 cho thấy hoạt tính ức chế lipase với các giá trị IC50 lần lượt là 16. luan an 12 Theo nghiên cứu của Zhou và cộng sự đã phân lập được mười một hợp chất flavonoid: (-)-epicatechin (5), (-)-epigallocatechin gallate (6), amelliaone A-E (70-74), quercetin (75), (-)-gallocatechin gallate (76), apigenin (77) và amentoflavone (78) từ dịch chiết ethanol của lá trà Camellia sinensis var. Đồng thời, tác giả cũng đã đánh giá hoạt tính chống oxi hóa, ức chế α-glucosidase và hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất này.
Hợp chất 77 thể hiện hoạt tính ức chế α-glucosidase với giá trị IC50 là 10.2 µM, tốt hơn so với acarbose (18. Năm flavanone (77-81) thể hiện độc tính tế bào đối với dòng tế bào ung thư ở người HepG2, với giá trị IC50 trong khoảng 50. luan an 13 Gần đây, từ loài trà C. assamica, Cheng và cộng sự đã phân lập được mười flavoalkaloid.
Các hợp chất đã được xác định là (-)-6- (5'''S)-N-ethyl-2-pyrrolidinone-epicatechin-3-O-gallate (79), (-)-6-(5'''R)-N- ethyl-2-pyrrolidinone-epicatechin-3-O-gallate (80), (-)-8-(5'''S)-N-ethyl-2- pyrrolidinone-epicatechin-3-O-gallate (81), (-)-8-(5'''R)-N-ethyl-2- pyrrolidinone-epicatechin-3-O-gallate (82), (-)-8-(5'''S)-N-ethyl-2- pyrrolidinone-catechin-3-O-gallate (83), (-)-8-(5'''R)-N-ethyl-2-pyrrolidinone- catechin-3-O-gallate (84) và etc-pyrrolidinone A-D (85-88). Bên cạnh đó, các hợp chất (79-84) đã thể hiện khả năng bảo vệ chống lại sự lão hóa tế bào do glucose trên các tế bào nội mô tĩnh mạch rốn của con người (HUVEC) ở 1.