MỞ ĐẦU Việt Nam có vị trí địa lý nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình nhiều đồi núi chia cắt nên điều kiện khí hậu rất đa dạng, có nhiều tiểu vùng khí hậu khá đặc trưng. Những yếu tố trên đã tạo nên những hệ sinh thái, thảm thực vật nhiệt đới phong phú và phát triển với khoảng 12 000 loài, trong đó có khoảng 1/3 trên tổng số loài được nhân dân ta dùng làm thuốc. Nhiều loài từ xa xưa được sử dụng trong y học cổ truyền và các mục đích khác phục vụ đời sống của con người đã trở nên quen thuộc như: mật nhân (Eurycoma longifolia), khổ qua (Momordica charantia), đương quy (Angelica sinensis), ba kích (Morinda oficinalis), bông mã đề (Plantago major), sâm (Panax vietnamensis), tam thất (Panax pseudoginseng), nghệ (Curcuma longa),…. Cho đến nay, hàng trăm cây thuốc đã được khoa học y - dược hiện đại chứng minh về giá trị chữa bệnh của chúng.
Trong vài thập kỉ trở lại đây, xu hướng đi sâu nghiên cứu các cây thuốc và động vật làm thuốc để tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao nhằm sản xuất các loại thuốc có giá trị cao phục vụ cuộc sống ngày càng được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Với sự trợ giúp của các phương pháp phổ (như phổ cộng hưởng từ, phổ khối,.) đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về các nhóm cây có ích, trong đó có nhóm cây có hoạt tính sinh học. Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam, nhiều loài thuộc chi Đẻn (Vitex) có công dụng chữa các bệnh như: cảm mạo, sốt rét, chóng mặt, nhức đầu, viêm ruột, rối loạn tiêu hóa, ho, hen suyễn, trị bệnh ngoài da,. Các nghiên cứu về thành phần hóa học các loài thuộc chi Vitex cho thấy chi này chứa đa dạng các lớp chất như: terpenoid, flavonoid, ecdysteroid, lignan,.
Các nghiên cứu đánh giá hoạt tính sinh học cho thấy dịch chiết và các hợp chất phân lập từ các loài thuộc chi này có các hoạt tính đáng quan tâm như: gây độc tế bào ung thư, kháng nấm, kháng khuẩn, chống oxi hóa,. Tuy vậy, những nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Vitex ở Việt Nam còn rất hạn chế. Tính đến nay, ở Việt Nam mới chỉ có khoảng 5 công trình nghiên cứu về thành phần hóa học một số loài thuộc chi Vitex [2-6], chưa có công bố nào về hoạt tính sinh học các loài thuộc chi này. Chính vì vậy, nhằm mục đích nghiên cứu làm rõ thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các loài thuộc chi Vitex ở Việt Nam tạo cơ sở khoa học trong việc sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc này, đồng thời tạo tiền đề cho những nghiên cứu 2 tiếp theo trong việc tạo ra các chế phẩm có hoạt tính sinh học cao phục vụ công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học loài Vitex limonifolia Wall.Clark và Vitex trifolia L.
Mục tiêu của luận án: Xác định thành phần hóa học chủ yếu của lá hai loài Vitex limonifolia Wall.Clark và Vitex trifolia L. Đánh giá hoạt tính kháng viêm và hoạt tính kháng virus in vitro của các hợp chất phân lập được. Nội dung luận án bao gồm: 1. Phân lập các hợp chất từ lá loài V.
trifolia ở Việt Nam bằng các phương pháp sắc ký; 2. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp vật lý, hóa học; 3. Đánh giá hoạt tính kháng viêm in vitro của các hợp chất phân lập được từ loài V. Đánh giá hoạt tính kháng virus in vitro của các hợp chất phân lập được từ loài V.
Giới thiệu về chi Vitex 1. Đặc điểm thực vật của chi Vitex Chi Vitex (Đẻn) thuộc họ Verbenaceae (Cỏ roi ngựa), bộ Lamiales (Hoa môi), lớp Magnoliapsida (Hai lá mầm), ngành Magnoliophyta (Mộc lan) [1]. Chi Vitex trên thế giới có khoảng 250 loài phân bố chủ yếu tại các quốc gia thuộc khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc hai bán cầu [7]. Các loài trong chi Vitex rất đa dạng, từ cây bụi tới cây gỗ trung bình, cao khoảng từ 1 m tới 35 m.
Lá thường mọc đối, kép chân vịt, thường có 3 hay 5 lá chét; lá chét có mép nguyên hay xẻ răng cưa. Cuống chung dài 3-5 cm, hơi phình ở gốc, mặt trên lõm, màu xanh, rất nhiều lông mịn. Hoa lưỡng tính, cụm hoa ở đỉnh cành hay ở nách lá phía đỉnh cành, gồm các xim 2 ngả hay 3 ngả hợp thành hình chùy, hình tháp hay hình ngù. Quả hạch gần hình cầu hay hình trứng, vỏ quả trong hóa gỗ cứng, vỏ quả giữa nạc, thường 1-2 hạt [7].
Ở Việt Nam, chi Vitex đã ghi nhận được 20 loài [1, 7] (Bảng 1. Chúng được phân bố khá rộng rãi từ bắc đến nam, tìm thấy ở cả địa hình vùng cao lẫn vùng ven biển. Mạn kinh Từ bi biển Ngũ trảo (V. negundo) Mẫu kinh năm cánh Bình linh vàng chanh Chân chim ba lá (V.
Hình ảnh một số loài thuộc chi Vitex 4 Bảng 1. Danh sách các loài thuộc chi Vitex ở Việt Nam TT Tên khoa học Tên tiếng Việt 1 V. canescens Kurz Đẻn lông, Mẫu kinh lông tro 2 V. Đẻn nhẵn glabrata 3 V.
Ngũ trảo, Hoàng kinh, Chân chim 4 V. cannabifolia Mẫu kinh, Ngũ trảo lá có răng 5 V. Ex Schauer San trắng, Cây chân vịt 6 V. pubescens Vahl Bình linh lông, Cây năng 7 V.
ptilota Bình linh cánh, Cây nàng, Suông gia 8 V. Williams Mẫu kinh núi, Mẫu kinh năm lá, Đẹn năm lá 9 V. puberula Mẫu kinh núi lông ngắn, Mạn kinh lông Moldenke 10 V. ovata Bình linh xoan, Từ bi biển, Quan âm biển, Thunb.
Mạn kinh, Đẹn ba lá, Quan âm 12 V. Mắt cáo, Chân chim ba lá 13 V. tripinnata var evrardii (P. Dop) Phuong Chân chim evrard 14 V.
limonifolia Wall ex C.Clark Bình linh vàng chanh 15 V. vestita Wall ex Schauer Đẻn lông nhung 16 V. pierrei Craib Bình linh piere 17 V. Dop Bình linh vòi dài 18 V.
Dop Bình linh nghệ 19 V. pierreana Dop Đẻn dài, Bình linh đá 20 V. pierreana var chartacea Dop Đẻn lá như giấy 1. Công dụng của các loài thuộc chi Vitex 1.
Tình hình sử dụng trong y học cổ truyền các loài thuộc chi Vitex Trên thế giới, từ thời cổ đại, con người đã sử dụng nhiều loài thuộc chi Vitex để chữa nhiều bệnh khác nhau như: đau khớp, co giật, giảm sốt, các bệnh về đường hô hấp, kháng lao, kháng u hay điều hòa kinh nguyệt [8]. trifolia được sử dụng trong giảm đau, kháng viêm, chống co giật; vỏ loài V. peduncularis làm thuốc đắp ngoài trị đau ở vùng ngực; nước hãm lá hoặc vỏ rễ, vỏ cành non được dùng trị sốt rét và bệnh sốt đen Ấn Độ,…. angus-catus được người Thổ Nhĩ Kì sử dụng trong các bài thuốc về tiêu hóa, lợi tiểu và chữa nấm.
Ở Trung Quốc, rễ loài V. canescens được dùng trị ngoại cảm, phong hàn, sốt rét, giun kim; lá loài V. negundo dùng trị cảm mạo, viêm ruột, trị lỵ; rễ loài V. quinata dùng trị viêm khí quản, háo suyễn, cam tích, phong thấp,.
Ở Việt Nam, nhiều loài Vitex cũng được sử dụng trong các bài thuốc dân gian để chữa trị một số bệnh thông dụng [1]. Chẳng hạn, lá loài V. negundo dùng để trị 5 nhức mỏi gân cốt, trị sốt; quả, hạt sắc nước tác dụng điều hòa kinh nguyệt, giảm đau đầu, trị cảm mạo, sốt rét, đau dạ dày. quinata dùng để nấu nước thay trà uống làm ngon miệng; rễ trị viêm thanh quản; lá trị phong thấp, cảm mạo.
pinata phối hợp với lá phèn đen, cối xay, hương nhu trắng, giã uống chữa trúng phong. Công dụng khác của các loài thuộc chi Vitex Tinh dầu Vitex có mùi cam chanh nên được sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất xà phòng, nước lau nhà, nước khử mùi, chất giữ ẩm. Ở Ấn Độ, một số loài thuộc chi Vitex được trồng quanh nhà để chống rắn. Các loài thuộc chi Vitex còn được dùng để diệt côn trùng, rệp.
Ngoài ra, Vitex còn được dùng như gia vị trong nấu ăn, chuẩn bị thực phẩm. Giới thiệu về loài V. limonifolia và loài V. limonifolia Tên khoa học: Vitex limonifolia Wall.
Tên thường gọi: Bình linh vàng chanh Chi: Vitex Họ: Verbenaceae Mô tả về thực vật: Cây gỗ nhỏ, cao 8-10 m. Cành non có lông tơ dày màu nâu nhạt. Lá mọc đối, kép chân vịt, 3-5 lá chét; cuống chung dài 5-7 cm, có lông, có cánh rộng tới 20-25 mm, mép cánh song song, chóp thót lại, gốc đỉnh tim. Lá chét hình bầu dục, hình trứng, hình trứng ngược hay hình ngọn giáo; chóp lá nhọn hay có mũi nhọn dài; gốc nhọn; mép nguyên; mặt trên có lông rải rác và nháp; mặt dưới có lông mềm màu nâu nhạt; cuống lá chét rất ngắn.
Cụm hoa hình chùy ở đỉnh cành, gồm các bông hoa dài, gián đoạn, có lông màu vàng. Lá bắc dạng lá, hình mũi mác; lá bắc nhỏ dài 6-7 mm. Đài hình chuông, dài 2,5-3 mm, có lông phía ngoài, 5 thùy nhỏ, nhọn. Tràng màu trắng ngà, dài 6 mm, nhẵn ở phía ngoài, có lông ở họng, 2 môi: môi trên 2 thùy tròn, ngắn, cong và hơi lõm; môi dưới 3 thùy với thùy giữa lớn.
Nhị 4, thò khỏi ống tràng; chỉ nhị nhẵn, đính ở phía trên ống tràng. Bầu gần hình cầu có lông ở đỉnh; vòi dài bằng nhị, đỉnh xẻ 2 thùy ngắn. Quả có hình cầu, có lông rải rác, đường kính 4-6 mm, mang đài bao gần nửa quả [7]. 6 Phân bố: Loài V.
limonifolia thường gặp ở vùng rừng hỗn giao, rừng thưa hoặc ven rừng. Ở Việt Nam, loài này được tìm thấy ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Ninh Thuận. Ngoài ra còn có ở Ấn Độ, Mianma, Lào, Campuchia, Thái Lan [7]. trifolia Tên khoa học: Vitex trifolia Linn.
Tên thường gọi: Mạn kinh Chi: Vitex Họ: Verbenaceae Mô tả về thực vật: Loài V. là cây bụi lớn hoặc cây gỗ nhỏ. Cành non có 4 cạnh, có lông mềm, màu xám nhạt; cành già tròn, nhẵn, màu nâu. Lá kép mọc đối, 3 lá chét (lá ở gần ngọn có hoa thường đơn), lá chét hình trứng, gốc tròn, đầu tù hoặc hơi nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn và đen lại khi khô, mặt dưới phủ đầy lông trắng, lá chét giữa lớn hơn; lá vò ra có mùi thơm; cuống lá dài 1-3 cm.