MỞ ĐẦU 'Bệnh ung thư đang ngày một gia tăng nhanh chóng, là cuộc khủng hoảng thực sự cho sức khỏe cộng đồng và là một thách thức lớn cho hệ thống y tế trên toàn thế giới. Tại các nước đang phát triển, ung thư là nguyên nhân gây tử vong thứ hai sau. Theo thông báo của WHO về ung thư công bố năm 2012, hằng năm trên. toàn thế giới có khoảng 14,1 triệu ca mắc mới và có đến 8,2 triệu ca tử vong do.
bệnh ung thư. Trong số đó, trường hợp tử vong tại các nước đang phát triển chiếm khoảng 70%. Dự báo trong hai thập kỷ tới số ca tử vong vì bệnh này có thể lên đến 13 triệu và số ca mắc mới sẽ tăng thêm khoảng 22 triệu [15]. Riêng ở Việt Nam, có khoảng 125.000 trường hợp mắc mới và khoảng 94.700 người chết vì ung thư mỗi năm [2],[14].
Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị ung thư bao gồm cả phương. pháp truyền thống (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị) và những phương pháp mới (ding thuốc điều trị thử nghiệm lâm sàng) nhưng các phương pháp này thường gây ra nhí tác dụng phụ, ảnh hưởng đến cơ thé. Vì vậy những năm gần đây, các nhà nghiên cứu có xu hướng tìm kiếm các loại thảo dược có nguồn gốc tự nhiên để điều trị ung thư và an toàn hơn với cơ thê. Chi Toi rimg (Aspidistra) duge phat hiện lần đầu tiên vào năm 1822.
cho đến năm 1911 cũng chỉ có 11 loài được mô tả trên thế giới. Ở Việt Nam, chỉ này bị quên lãng trong thời gian dài. Đến cuối thế kỉ 20, chỉ có 3 loài 4spidistrz. được ghi nhận trên lãnh thổ nước ta.
Tuy nhiên, thập niên qua số loài 4spidistra. trong hệ thực vật Việt Nam đã được phát hiện thêm, với 43 loài được phát hiện và mô tả (chiếm hơn 1⁄3 tổng số loài 4spidistra trên thế giới) [1][34]. Do vậy, Việt Nam được xem là trung tâm đa dạng bậc nhất của chỉ 4spidisra. Nhiều loài 4spiđis:ra đã được sử dụng trong nền y học cổ truyền để làm thuốc.
bổ, chữa long đờm, lợi tiểu, chữa gãy xương, tắc nghẽn động mạch, giải độc rắn cắn. Các nghiên cứu dược lý hiện đại đã chứng minh nhiều nhóm hợp chất tách ra tir chi nay (lectin, homoisoflavone, steroidal saponin) sở hữu nhiều hoạt tính quý. giá như kháng virus, kháng u, kháng viêm, kháng nắm, kháng khuẩn. Đặc biệt một số steroidal saponin thể hiện tác dụng ức chế gần như hoàn toàn với quá trình sao.
chép của virus HIV, được hứa hẹn phát triển thành các thuốc chữa HIV trong tương. Mặc dù chỉ 4spi4isza có ưu thế về nguồn tài nguyên như vậy, nhưng những, nghiên cứu về mặt hóa học vả hoạt tính sinh học của chúng ở trong nước còn rất sơ. khai, làm hạn chế khả năng khai thác, ứng dụng và bảo tồn nguồn gen quý. Từ các lý do trên, chúng tôi đề xuất đề tài: “Phân lập và thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư của một số hợp chất từ cây Tỏi lê trễ (4spidistra letreae)”.
-* Mục tiêu của luận văn: 1. Nghiên cứu để làm rõ thành phần hóa học của một số hợp chất từ cây Tỏi đá. lê trễ 4spidistra letreae, thuộc họ Thiên môn đông (Asparagacc } 2. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư của một số hợp chất phân lập được.
từ loài này. ** Nội dung nghiên cứu của luận văn: 1. Chiết tách, phân lập, tỉnh chế một số hợp chất từ cây Tỏi đá lê trễ 4spidistra Ierreae, thuộc họ Thiên môn đông (Asparagaceae). Xác định cầu trúc hóa học của các hợp chất đã phân lập.
Thứ hoạt tính gây độc tế bào ung thư của các hợp chất đã phân lập. VAI TRÒ CỦA HỢP CHẤT THIÊN NHIÊN TRONG NGHIÊN CỨU VÀ. PHAT TRIEN THUỐC Hop chat thiên nhiên (Natural Products - NPs) đã và dang đóng vai trò then chốt trong việc nghiên cứu và phát triển thuốc. Khoảng 40% các thuốc hiện nay có.
nguồn gốc từ NPs hoặc các dẫn xuất bán tổng hợp của chúng [19]. Việc nghiên cứu. hợp chất thiên nhiên tiếp tục dẫn đến sự bùng nô các cấu trúc dẫn đường, làm nền. cho ngành công nghiệp hóa được.
NPs được ưa chuộng hơn các sản phẩm tổng hợp vì NPs thường có cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học phong phú hơn các hợp. chất tổng hợp. Nhiều NPs có cấu trúc quá phức tạp nên không thể hoặc quá đắt đỏ. nếu phải tổng hợp ở quy mô công nghiệp.
Ngoài ra, do được sinh ra trong các tế bảo. sống nên NPs có khả năng tương thích cao, ít tác dụng phụ so với các thuốc tông. Các thống kê trong khoảng 30 năm (1981-2010) cho thấy, các thuốc có nguồn sốc thiên nhiên chiếm 12,2-50,0% tổng số thuốc mới, 34% số thuốc chống ung thư [30]. Đặc biệt, thực vật có một lịch sử lâu dài trong điều trị ung thư với khoảng.
3000 loài đã được sử dụng [7]. Nhiều sản phẩm chống ung thư từ thực vật đã được. sử dụng hiệu quả trên lâm sảng. Ví dụ như podophyllotoxin được chiết từ rễ cây Podophyllum pelratum được dùng đễ chữa ung thy da, vinblastine, vincristine được chiết xuất từ Dừa cạn (Catharamrhus roseus) có tác dụng tốt trong điều trị ung thư máu, ung thư bạch cẳu, ung thư tinh hoàn, ung thư nguyên bào thần kinh.
Hiện nay, Taxol® vẫn được xem là thuốc chống ung thư bán chạy. nhất, với doanh thu lên đến 1,5 tỉ USD (năm 2000) và vẫn đang tiếp tục tăng. Như vậy có thể thấy, NPs nói chung và các hợp chất có nguồn gốc từ thực vật nói riêng đã, đang và sẽ là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho việc tìm kiếm và phát triển thuốc mới trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHI 4SPIDISTR4 Ở TRONG NƯỚC VÀ.
'TRÊN THÊ GIỚI 1. Các nghiên cứu vê chỉ Aspidistra ở Việt Nam. Các nghiên cứu về chỉ 4spiđistra ở nước ta chủ yếu tập trung vào mặt thực vật học. Chỉ thực vật .4spidistra - bắt nguồn từ chữ Latin: aspis dạng hình khiên, là tính.
chất hình thái đặc trưng của hoa trong chỉ này-thuộc họ Măng tây (Asparagaceae). Trong hệ thống thực vật Việt Nam họ này mới được tách ra từ họ Loa kèn. (Liliaceae), gồm có trên 90 loài phân bố chủ yếu ở vùng rừng kín, núi cao ẩm. Pham Hoang H6 (1999) chi nay c6 mét loai (Aspidistra typica Baill.) phân bố ở Quảng Ninh.
Các loài cay trong chi Aspidistra - chỉ Tỏi rừng - được biết đến trong, danh lục cây thuốc Việt Nam, được sử dụng rất tốt, có vị cay, đắng, có tính ấm, tác dụng trừ ho, thanh nhiệt giải độc,. thân rễ của cây được dùng trong dân gian chữa trị ly, sốt rét, phong thấp tê đau, thận hư lưng gối đau, đòn ngã tốn thương, gãy xương, rắn độc cắn. Thời gian gần đây số lượng loài mới thuộc chỉ .spiđisra ở Việt Nam được phát hiện và mô tả ngày càng nhiều. Nhiều loài trong số đó có sự đóng góp của các nhà thực vật học Việt Nam nhu Aspidistra renatae [6], Aspidistra truongii [4], Aspidistra œveryanovi, Aspidistra parviflora [2l], Aspidistra cadamensis [22] 1.
Các nghiên cứu về thành phần hóa học chỉ Aspidistra trên thể giới Các nghiên cứu đầu tiên về hóa thực vật chỉ 4spidisra được mô tả vào khoảng. đầu thập niên 70. Năm 1973, Mori và Kawasaki đã phân lập được một saponin mới với tên gọi aspidistrin (1) từ phần dưới mặt đất loài 4spidisra elarior [29]. chất này được xác định là diosgenin 3-O-{Ø-D-glucopyranosyl-(1—>2)-[-D- xylopyranosyl-(1—3)];/-p-glueopyranosyl-(1—54}-/-D-galactopyranoside — thông qua phương pháp MS và chuyển hóa hóa học.
Cũng từ loài này, Hirai và cộng sự [13] phân lập 4 hợp chất khung steroid gồm aspidistrin (1), proto-aspidistrin (2), methyl proto-aspidistrin (3), 1. Năm 1984, nhóm nghiên cứu của Konishi [1§] công bố thêm 3 saponin mới gồm. neopentologenin 5-O--p-glucopyranoside (5), 26-O-f-D-glucopyranosyl 22- methoxy-5/-furostane-1/,3/,46.26-pentaol 5-Ø-ƒ-p-glucopyranoside (6), 9 magnesium 26-0-ƒ--glucopyranosyl 22-methoxy-5-furostane-1/,3.5/,26- pentahydroxy-2/-yl sulfate monohydroxide (7). Trong đó, hợp chất (7) là steroidal slycoside có chứa nhóm sulfate lần đầu tiên được phát hiện ở họ Liliaceae.
rene ey ey Hoc, = R= HOCH, — HOCH; vw gy es ot Lòng a Tụ Hoc Hoct, ọn "eis mu ỒN HOCH, H0 Khoang 30 năm sau đó, hầu như không có nghiên cứu. nào đáng kể về thành phan hóa học chỉ 4spidistra. Đến gần đây, các nhà khoa học Trung Quốc công bó. hai saponin mới (8, 9) thuộc loại furostanol và một hợp chất đã biết timosaponin H1 (10) từ thân rễ 4spiđisra pypica [8].
Cấu trúc của các chất mới được xác định là (25R)-26-0--D-glucopyranosyl-furost-5-ene-12-one-3P,22a,26-triol-3-O-P-D- glucopyranosyl-(1—>2)-[B-D-xylopyranosyl-(1—»3)]-f-D-glucopyranosyl-(1—>4)-B- D-galactopyranoside (8, typaspidoside A), (25S)-26-O-B-D-glucopyranosyl-furost- 5-ene-12-one-3,22a,26-triol-3-O-B-D-glucopyranosyl-(1»2)-[B-D-xylopyranosyl- (1-43)]-B-b-glucopyranosyl-(1->4)-B-D-galactopyranoside (9, 25S-typaspidoside A) Tir loai Aspidistra typica, cée nhi nghién cia di phin lap duge mot homoisoflavone mới, typicalvone A (11), cing n-heneicosane (12) and p- hydroxybenzoie acid (13) vio nam 2016 [8]. Trong năm này, 11 saponin khung furostanol mới, typaspidoside B-L (14-24), 1 saponin spirostanol mới, typaspidoside M (25), va 5 saponin di biét 25S-atropuroside (26), neoaspidistrin (27), (255)-pratioside D1 (28), 25S-aspidistrin (29), 25S-neosibiricoside (30) đã duge phan lap va xac dinh tir thin ré Aspidistra typica [9]. Trong đó, typaspidoside B-D có cấu trúc vòng E mở, typaspidoside J, K mang nhom thé methoxy tại C-23 là những đặc điểm dị thường, lần đầu tiên được phát hiện ở các hợp chất thiên nhiên. 10 Ra RO RO ORs 5.Ri=Re=H,Rs= Bglucose 6.R)=H, Re= OH, Rs = B-glucose 7.Rs = Rs =H, Re = OSOsMgOH ko R mayRe 0 may te mom 055 0 oy v Hoo He PHONE7 2S E ca %2 sẽ 0.
HL : é OH " 13 " mới. 36 | CaHaOa | (259ˆ26-0-SI-Rmos-š-ene-322226-vio-3-0-SS | CHẾ 37 | CscHovOrs (255)-26-0-S1 -furost-5,25(27)-diene-3f,2a,26-tniol-3- Chit O-S3 mới 38] CsHsO» | TimosponinHI 39 | CsHsOa | Proto-aspidistin (25E-Imosnponin HÌ) 40 | CssHsOz; | (25S)-26-Ó-S1-furost-5-ene-3/,22a,26-triol-3-Ó-S8 ba] 41 | CoothiooOss {205 255)-26-O-S6-furost-5,22-diene-38,20f,26-mal- Chất ‹ mới 42| CsHsOs |TvpaspidosideH 43 | CøHwOs 255)-26-0-S1-furost-5,25(27)-diene-38,22a,26-triol- Chit 3-O0-S7 mới 44] CoHsO | TapaspidosdeR 45 | CasHsOis. | Typaspidogenin-2-0-S2 " 46 | CsHsOs: |TapaspidosdeL 47 | CaHs4Ois | Neopentologenin-5-O-Ø-p-glucopyranoside.O; | Typaspidogenin 49 | CsoHsO2;_| 25S-atropuroside H 50 | CøHsOu | TypaspidosideT SL| CøH»Os: | Neoaspidisrin 52 | CxH=Ou | Neopentologenin-2-0-S2 cm 53] CoHsOi.B-5-O-SL 54 | CaHaOa | Neoaspidisuin 5S | CøH«O; |Neopemologenin 56| CsoHlO2s | (255)-spirost-S(6)-ene-1f,3P-diol-3-O-S3 cnt 57] CzH«O: |Tupiehisenin E 58 | CallsOs: | Đông phân của aspidistrin 59] CøHsOs: |25aspidisrin 60 | CeHzOis |25£neosibiicoside D (SI, f-D-glucopyranosyl; S2, -o-xylopyranosyl; $3, -o-glueopyranosy-(1—2)|/:p- xylopyranosyl-(I~93)}/-p-glucopyranosyl-(1~x4)/-0-galactopyranosyl; $4, đ-0-glucopyranosyl- (1+2)-f--slucopyranosyl-(I+4)-f-b-galactopyranosyl; SS, /-0-glucopyranosyl41~+2F/Fo- slucopyranosyl-(1—+3)]-f--glucopyranosyl1—»4)-f-b-galactopyranosyl; $6, f-b-glucopyranosyl- (I2 or 6)/-0-glueopyranosyl, S7, /-o-xylopyranosyl-(1—33)/:o-glueopyranosyl-(1~+4)/-0- galactopyranosyl; S8, /--xylopyranosyl-(1~2)|/-o-xylopyranosyl<(1~53)}/-0-glueopyranosyl- (1—34):-p-galaetopyranos) 15 Năm 2018, Zuo cùng các đồng nghiệp [38] đã phân lập được bốn furostanol saponin mới từ thân rễ của 4spidisra elarior Blume, với tên gọi lần lượt là aspidsaponin A-D (32-35), cùng với một saponin steroid đã biết (31). Hợp chất 31 và 32, 34 và 35 là hai cặp C-25 epimer, 33-35 là các steroid glycoside đa oxy hóa với hợp phần đường liên kết tại C4.3 Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của chi Aspidistra Chỉ 4spidistra đã được sử dụng trong nẻn y học cổ truyền của nhiều nước.
Ở Nhat Ban, phan dudi mat dat loai Aspidistra elatior có tác dụng long đàm, lợi tiểu, bồi bổ cơ thể [29]. Thân rễ loài 4spidisra typica được dùng như một loại thuốc.