ĐẶT VẤN ĐỀ Mang thai và sinh con là thiên chức của người phụ nữ, tuy nhiên để thực hiện thiên chức của mình mọi sản phụ đều phải vượt qua nỗi đau đớn trong chuyển dạ. Cơn đau trong chuyển dạ được so sánh với cơn đau trong cắt bỏ chi mà không dùng thuốc tê [18, 32]. Chính cơn đau này làm sản phụ lo lắng, gây tình trạng tăng tiết ACTH, tăng cortisol, tăng epinephrine, norepinephrin làm tăng huyết áp, thay đổi nhu cầu tiêu thụ oxy, ảnh hưởng đến lưu lượng máu tử cung – rau thai gây thai suy thai. Ở những sản phụ có bệnh lý tim mạch, nội tiết, cơn đau còn gây tình trạng đặc biệt nguy hiểm đến tính mạng người mẹ do làm tăng nhu cầu tiêu thụ oxy, tăng cung lượng tim, rối loạn thăng bằng kiềm toan.
Giảm đau tốt rất quan trọng đối với sự gắn kết mẹ con, sớm chuyển dạ và xuất viện. Một số nghiên cứu cho thấy hiệu quả giảm đau của morphin thần kinh tốt hơn so với opioid tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp [41, 48]. Tuy nhiên, các phản ứng có hại với morphin thần kinh, chẳng hạn như buồn nôn hoặc nôn, ngứa và chóng mặt, được báo cáo là liên quan đến liều lượng trong một số nghiên cứu và không liên quan đến liều lượng ở những nghiên cứu khác. Một nghiên cứu cho thấy gây tê cục bộ ngoài màng cứng với opioid giúp giảm đau tốt hơn và ít gây buồn nôn , nôn hơn morphin tiêm trong da [34].
Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) để giảm đau trong chuyển dạ là phương pháp giảm đau an toàn và hiệu quả nhất hiện nay. GTNMC có thể do nhân viên y tế bơm các liều bolus mỗi khi sản phụ đau, có thể bơm tiêm truyền liên tục hay sản phụ tự điều khiển, mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng nhưng nói chung, mục tiêu của các phươngpháp là để góp phần giúp cho việc sinh nở trở nên nhẹ nhàng, thuận lợi hơn.Gây tê ngoài màng cứng có kiểm soát bởi sản phụ là phương pháp giảm đau trong chuyển dạ đã được áp dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Ở Việt Nam cũng đã được thử nghiệm ở một số ít Bệnh viện [18, 32].2 Ảnh mẹ và em bé sau sinh Sự hài lòng của sản phụ là một chỉ số quan trọng trong đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh. Đánh giá sự hài lòng của sản phụ với thuốc gây tê là rất quan trọng để cải thiện trải nghiệm của họ.
Mức độ hài lòng của sản phụ là thước đo về sự phù hợp của những dịch vụ được cung cấp so với nhu cầu và mong đợi của cộng đồng. Những thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sản phụ sẽ giúp các cơ sở cung cấp dịch vụ cũng như các nhà hoạch định, thực thi chính sách thực hiện những giải pháp nhằm cải thiện chất lượng khám chữa bệnh (KCB). Theo dõi, giám sát mức độ hài lòng của sản phụ đóng vai trò quan trọng trong ghi nhận chất lượng dịch vụ cũng như hiệu quả của hoạt động KCB bởi lẽ sự hài lòng của sản phụ có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực, tác động trực tiếp đến tình trạng sức khoẻ của họ. Tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương, phương pháp GTNMC để giảm đau trong chuyển dạ được áp dụng thành công từ nhiều năm nay.
Số lượng sản phụ được thực hiện giảm đau bằng gây tê ngoài màng cứng tăng dần từ khi bệnh viện thực hiện qui chế về giảm đau trong đẻ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện khảo sát mức độ hài lòng của sản phụ với chất lượng dịch vụ gói gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ tại 2 bệnh viện. Với lý do thực tiễn như vậy, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Khảo sát sự hài lòng của sản phụ sau sử dụng gói dịch vụ giảm đau trong đẻ bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương”. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để ban lãnh đạo bệnh viện xây dựng chiến lược quản lý và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng ngày một tốt hơn.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả mức độ hài lòng của sản phụ sau sử dụng gói dịch vụ giảm đau trong đẻ bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022. Xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ hài lòng của sản phụ sau sử dụng gói dịch vụ giảm đau trong đẻ bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm về sự hài lòng Sự hài lòng được định nghĩa như phản ứng cua khách hàng v ề việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng tước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó. Theo Hansemark và Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn. Khái niệm về sự hài lòng đối với dịch vụ y tế Chỉ số hài lòng của khách hàng lần đầu tiên được ra đời tại Thụy Điển (1989), sau đó được phát triển và ứng dụng rộng rãi ở các nước EU trong các lĩnh vực dịch vụ.
Chỉ số hài lòng của sản phụ được nhiều cơ sở khám, chữa bệnh các nước phát triển trên thế giới sử dụng để hoạch định chiến lược duy trì khách hàng, tiếp thị, xây dựng thương hiệu và gia tăng năng lực cạnh tranh. Các yếu tố tác động tới sự hài lòng của sản phụ bao gồm: mối quan hệ giữa nhân viên y tế và sản phụ, sự mong đợi của sản phụ, chất lượng sản phẩm/dịch vụ sản phụ cảm nhận được và giá trị của dịch vụ so với chi phí phải trả và thời gian sản phụ phải chờ đợi [26]. Khái niệm sự hài lòng đối với dịch vụ y tế: là sự hài lòng chất lượng chăm sóc không chỉ phụ thuộc vào máy móc, trang thiết bị mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan khác như tinh thần thái độ, kiến thức , kỹ năng, tay nghề của cán bộ y tế và có tính hợp lý của các quy 5 trình chăm sóc. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay nó còn phụ thuộc vào mô hình tổ chức của cơ quan y tế đó, quy trình cải cách hành chính.
và các yếu tố quy định khác nữa [22]. Khái niệm chất lượng dịch vụ y tế Chất lượng dịch vụ y tế có những đặc tính riêng và cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất và cách đo lường thống nhất. Có một số định nghĩa về chất lượng dịch vụ y tế có tính khái quát cao và thường được sử dụng, theo báo cáo tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 12/2012 thì các khái niệm chất lượng phục vụ là: + Chất lượng dịch vụ y tế bao hàm hai cấu phần riêng biệt là chất lượng vận hành (functional quality), tức là cách thức sản phụ được nhận dịch vụ (chất lượng thức ăn, tiếp cận dịch vụ) và chất lượng chuyên môn (technical quality), tức là chất lượng của việc cung ứng dịch vụ KCB (năng lực và kết quả điều trị). + Chất lượng dịch vụ KCB bao gồm cả việc ứng dụng khoa học và kỹ thuật y khoa theo cách thức nào đó để tối đa hóa lợi ích về sức khỏe mà không làm gia tăng các rủi ro tương ứng do ứng dụng các kỹ thuật này.
Do đó, chất lượng dịch vụ KCB chính là mức độ mà dịch vụ y tế được kỳ vọng sẽ đem lại sự cân bằng mong muốn nhất giữa rủi ro và lợi ích. + Chất lượng dịch vụ KCB là mức độ theo đó các dịch vụ y tế mà cá nhân và cộng đồng sử dụng làm tăng khả năng đạt được kết quả sức khỏe mong muốn và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại. + Chất lượng dịch vụ KCB là hình thức tổ chức các nguồn lực một cách hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) của những người có nhu cầu nhất nhằm mục đích phòng bệnh và CSSK, an toàn, không gây lãng phí mà vẫn đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu cao hơn (Ovretveit) + Chất lượng dịch vụ y tế là mức độ đạt được các mục đích bên trong của một hệ thống y tế nhằm nâng cao sức khỏe và đáp ứng được kỳ vọng 6 chính đáng của nhân dân. Có một định nghĩa do Viện Y học của Mỹ đúc kết và được WHO cho là một định nghĩa thiết thực, trong đó chỉ rõ sáu lĩnh vực hoặc khía cạnh của chất lượng dịch vụ y tế cần tác động đến để cải thiện chất lượng.
Việc đánh giá dịch vụ từ các khía cạnh này rất có ích nhằm xác định các biện pháp can thiệp để cải thiện chất lượng dịch vụ một cách cơ bản. Các khía cạnh đó là: An toàn, cung cấp dịch vụ y tế với sự giảm thiểu rủi ro và nguy h ại cho người sử dụng dịch vụ. Hiệu quả, cung cấp dịch vụ y tế dựa vào cơ sở bằng chứng và đem lại các kết quả cải thiện sức khỏe cho các cá nhân và cộng đồng, dựa trên nhu cầu. Sản phụ là trung tâm, cung cấp dịch vụ y tế có tính đến sở thích và nguyện vọng của người sử dụng dịch vụ cá nhân và các nền văn hóa của các cộng đồng; Kịp thời, dịch vụ y tế được cung cấp kịp thời, hợp lý về mặt địa lý và trong các cơ sở có kỹ năng và nguồn lực phù hợp với yêu cầu y học; Hiệu suất, cung cấp dịch vụ y tế với việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả tối đa và tránh lãng phí; Công bằng, cung cấp dịch vụ y tế không có khác biệt về chất lượng theo các đặc điểm cá nhân sản phụ như giới tính, chủng tộc, dân tộc, vị trí địa lý, hoặc tình trạng kinh tế xã hội [22].
Khái niệm gói dịch vụ: Để người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và thuốc có chất lượng tại các cơ sở y tế thì việc thực hiện gói dịch vụ y tế cơ bản do bảo hiểm y tế chi trả tại tuyến cơ sở là một giải pháp mang tính thi ết thực.Xây dựng gói dịch vụ y tế cơ bản là yêu cầu được đặt ra nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân.