ĐẶT VẤN ĐỀ Từ năm 1990 đến nay, ngành điều dƣỡng Việt Nam đƣợc sự hỗ trợ của Chính phủ và Bộ y tế đã phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực về quản lý, đào tạo, thực hành và nghiên cứu điều dƣỡng. Trong xu hƣớng hội nhập khu vực và quốc tế, Chính phủ đã ký thỏa thuận khung về thừa nhận lẫn nhau với 10 quốc gia ASEAN về việc công nhận dịch vụ điều dƣỡng trong khu vực. Nghề điều dƣỡng đã phát triển thành một ngành dịch vụ công cộng thiết yếu, cần cho mọi ngƣời, mọi gia đình [8],[38]. Cũng giống nhƣ bất kỳ tổ chức nào, một bệnh viện muốn tồn tại và phát triển luôn phải tận dụng triệt để, kết hợp hài hòa các nguồn lực của đơn vị mình.
Các yếu tố nhƣ: trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất, vốn đầu tƣ v.rất quan trọng, nhƣng một yếu tố mang tính quyết định, chi phối các nguồn lực đó chính là nguồn nhân lực, là sức mạnh, trình độ, tâm huyết của các cán bộ y tế. Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng. Trong những năm qua đƣợc sự quan tâm của các cấp, ban ngành trong tỉnh, ngành y tế Thái Bình đã có những bƣớc phát triển, hoạt động chuyên môn y tế tại Thái Bình đạt hiệu quả cao. Các bệnh viện tại tỉnh Thái Bình đƣợc phân bố rộng khắp từ tuyến huyện đến tuyến tỉnh, bệnh viện tại trung tâm thành phố, bệnh viện đặt ở huyện đồng bằng và bệnh viện ở vùng ven biển.
Hệ thống khám chữa bệnh các tuyến đƣợc củng cố, đầu tƣ nâng cấp cả về tổ chức, nhân lực và kỹ thuật chuyên môn. Phát triển và áp dụng nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật chuyên sâu ở các tuyến, trong đó nhiều kỹ thuật lần đầu tiên đƣợc thực hiện. Công tác tổ chức cán bộ, tuyển dụng bác sĩ – điều dƣỡng có năng lực, trình độ, đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp luôn đƣợc lãnh đạo Sở và các đơn vị quan tâm và vị trí điều dƣỡng cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển hệ thống y tế. Khi vào bệnh viện, ngƣời bệnh thƣờng nghĩ làm sao tìm đƣợc bác sĩ có tay nghề nhƣng ít ai biết công việc thầm lặng của ngƣời điều dƣỡng lại đóng vai trò rất quan trọng.
Ngƣời điều dƣỡng là ngƣời thƣờng xuyên, liên tục chăm sóc và tiếp xúc với ngƣời bệnh và ngƣời nhà ngƣời bệnh nên việc nhà quản lý cần thông tin về thực trạng nhân lực và một số yếu tố ảnh hƣởng đến nhân lực điều dƣỡng để xây dựng 2 chính sách nhân lực phù hợp, từng bƣớc thu hút và phát triển đội ngũ điều dƣỡng nói riêng và nguồn nhân lực y tế của ngành nói chung nhằm đảm bảo nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, trong bệnh viện ngƣời điều dƣỡng luôn là đa số và là lực lƣợng rất quan trọng trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Mặc dù nguồn nhân lực điều dƣỡng trong tỉnh mỗi năm đều tăng về số lƣợng, tuy nhiên chất lƣợng vẫn là vấn đề cần xem xét, trình độ chuyên môn chƣa đồng đều giữa các đối tƣợng, biên chế và hợp đồng giữa các bệnh viện còn chƣa hợp lý. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến nhân lực điều dưỡng tại 6 bệnh viện tỉnh Thái Bình năm 2017”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng nhân lực điều dƣỡng tại 6 bệnh viện tỉnh Thái Bình năm 2017. Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực trạng nhân lực điều dƣỡng tại 6 bệnh viện tỉnh Thái Bình năm 2017. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm nguồn nhân lực y tế Nhân lực y tế đƣợc coi là một phần quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính đảm bảo hiệu quả chất lƣợng dịch vụ y tế. Các lựa chọn của NVYT về nguồn lực (nhƣ chỉ định xét nghiệm, kê đơn thuốc hoặc quy định về danh mục trang thiết bị.) sẽ ảnh hƣởng lớn hiệu quả của toàn bộ hệ thống y tế. Khi xây dựng chính sách, nhà hoạch định chính sách tập trung vào khâu phát triển nguồn lực, trong khi cần quan tâm đến cả tính hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực cả từ khía cạnh Nhà nƣớc lẫn các cơ sở y tế. Quản lý và điều hành tốt nguồn nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lƣợng dịch vụ mà còn tăng cƣờng công bằng trong chăm sóc sức khỏe (CSSK) và nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực.
Các đặc tính và tầm quan trọng của nguồn nhân lực y tế trong việc đảm bảo hiệu quả, chất lƣợng và công bằng trong cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp để sử dụng nguồn nhân lực y tế một cách hiệu quả nhất. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đã thể hiện rõ nhân lực y tế cần đƣợc quan tâm đặc biệt [19]. Năm 2006, WHO đã đƣa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” [41]. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế.
Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (nhƣ tình nguyện viên xã hội, những ngƣời CSSK gia đình, lang y.); kể cả những ngƣời làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (nhƣ quân đội, trƣờng học hay các doanh nghiệp). Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân. Khi xây dựng và thực hiện 5 các kế hoạch đào tạo, sử dụng, quản lý và phát huy nhân lực y tế, cần đề cập tất cả mọi ngƣời thuộc “nhân lực y tế” theo định nghĩa đã nêu trên. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam do khó khăn về thu thập thông tin nên còn một số nhóm đối tƣợng chƣa có số liệu thống kê đầy đủ (ví dụ y tế tƣ nhân, bà đỡ/mụ vƣờn, lƣơng y, lái xe cấp cứu, cộng tác viên y tế, kỹ thuật viên trang thiết bị y tế, cán bộ BHYT…).
Một số nhóm đối tƣợng cũng không đƣợc tách ra trong các bảng số liệu thống kê nên không thể phân tích sâu (ví dụ nhƣ cán bộ quản lý, CBYT làm việc tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu.) và một số nhóm khác (vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, điều trị bệnh chân, vv…). Điều này sẽ làm cho việc thực hiện Báo cáo chung Tổng quan ngành y tế (JAHR) 2009 gặp khó khăn nhất định trong phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng về nhân lực y tế Việt Nam [3], [40]. Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới 1. Số lượng nhân viên Theo số liệu thống kê của các quốc gia, từ các nguồn thống kê và điều tra về lao động, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ƣớc tính năm 2006 có khoảng 59,2 triệu nhân viên y tế chính thức đƣợc trả lƣơng trên toàn thế giới.
Những ngƣời này đang làm việc tại các cơ sở y tế mà nhiệm vụ chính là cải thiện và nâng cao sức khỏe (nhƣ các chƣơng trình y tế hoạt động bởi các tổ chức chính phủ và phi chính phủ) và những nhân viên y tế trong những cơ sở không phải là y tế (nhƣ nhân viên y tế trong các công ty, trƣờng học). Ngƣời cung cấp dịch vụ y tế chiếm khoảng 2/3 tổng số nguồn nhân lực y tế toàn cầu, 1/3 còn lại là những ngƣời quản lý và nhân viên khác [41]. Châu Mỹ và Châu Âu là hai khu vực có số lƣợng nhân viên y tế (NVYT) cao hơn cả với số lƣợng lần lƣợt là 21. Đây cũng là hai khu vực có tỷ lệ NVYT trên 1.000 dân cao nhất (24,8 và 18,9).
Trong khi đó, Châu Phi và Trung cận Đông là hai khu vực có số lƣợng cũng nhƣ mật độ NVYT trên 1.000 dân thấp nhất. Mật độ NVYT trên 1.000 ở khu vực Châu Phi năm 2006 chỉ là 2,3 và ở khu vực Trung cận Đông là 4,0. Đông Nam Á cũng nằm trong khu vực có mật độ NVYT/1.000 ở mức thấp so với toàn thế giới (4,3/1.000 dân so với 9,3/1. [26] 6 Một nhân lực y tế có quy mô và kỹ năng phù hợp là rất quan trọng để đạt đƣợc mục tiêu chăm sóc sức khỏe.
Tuy nhiên, các quốc gia ở tất cả các cấp độ của khuôn khổ phát triển kinh tế xã hội, mức độ khác nhau, trong giáo dục và đào tạo, triển khai, duy trì và hoạt động của lực lƣợng lao động sức khỏe của họ. Kết quả là "SDG chỉ số ngƣỡng" 4,45 bác sĩ, điều dƣỡng và hộ sinh trên 1000 dân đƣợc coi nhƣ một mật độ tối thiểu chỉ định đại diện cho sự cần thiết cho nhân viên y tế. Trong năm 2013 nhân lực y tế toàn cầu đã qua 43 triệu. Trên toàn cầu, sự thiếu hụt dựa trên nhu cầu của nhân viên y tế trong năm 2013 đƣợc ƣớc tính là khoảng 17,4 triệu, trong đó gần 2,6 triệu là những bác sĩ, khoảng 9 triệu là điều dƣỡng và nữ hộ sinh, và phần còn lại đại diện cho tất cả cán bộ nhân viên y tế khác.
Việc dựa trên nhu cầu lớn nhất sự thiếu hụt nhân lực y tế ở Đông Nam Á là 6,9 triệu và châu Phi là 4,2 triệu. Sự thiếu hụt về tuyệt đối là cao nhất trong khu vực Đông Nam Á do dân số lớn của các quốc gia trong khu vực này. Sự thiếu hụt dựa trên nhu cầu toàn cầu của nhân viên y tế đƣợc dự báo là vẫn còn hơn 14,5 triệu trong năm 2030 (giảm 17%) [42]. Phân bố nhân viên y tế Nhân viên y tế phân bố không đồng đều giữa các quốc gia.
Những quốc gia có nhu cầu tƣơng đối thấp thì lại có số lƣợng NVYT cao nhất. Trong khi đó những quốc gia có gánh nặng bệnh tật lớn nhất thì lại có lực lƣợng NVYT ít hơn nhiều.