ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Chất lượng cuộc sống được nâng cao thì người dân cũng ngày càng chú trọng đến công tác chăm sóc sức khỏe của bản thân và gia đình. Muốn chăm sóc sức khỏe tốt cho nhân dân, chúng ta cần phải có đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng tốt về chuyên môn. Trong quá trình phát triển, người dân ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng dịch vụ ngành y tế, và cũng vì thế ngành y tế cũng đòi hỏi nhiều hơn ở chất lượng nguồn nhân lực nhất là đội ngũ bác sỹ (BS) [3], [37].
Thực trạng thiếu nhân lực y tế trình độ cao ở khắp nơi tại các tỉnh miền núi phía bắc như Tuyên Quang mới đạt 6,2 BS /1 vạn dân, Hà Giang: 7,0 BS /1 vạn dân, Yên Bái: 6,7 BS /1 vạn dân. Bệnh viện tỉnh Hòa Bình tính đến hết năm 2014, nhân lực có trình độ đại học đạt tỷ lệ 23,2%, nhưng thiếu bác sỹ có trình độ sau đại học (mới có 13%) [41]. Tình trạng thiếu bác sỹ diễn ra phổ biến ở các bệnh viện kể cả các bệnh viện tuyến tỉnh ở miền núi phía bắc [38], [43]. Trong quá trình đổi mới và phát triển về kinh tế xã hội, hệ thống y tế nước ta đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực.
Trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, bệnh viện là bộ mặt của ngành Y tế. Chất lượng dịch vụ của bệnh viện ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người dân. Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến Trung ương đã trở nên hết sức nóng. Nguyên nhân của hiện tượng này là do hoạt động của hệ thống bệnh viện ở các tuyến còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa hiệu quả.
Tình trạng bệnh nhân vượt tuyến dưới và quá tải đối với bệnh viện tuyến trên đang rất phổ biến mà nguyên nhân của hiện tượng này hàng đầu là do các khó khăn về nguồn nhân lực của các bệnh viện tuyến dưới, đó là chất lượng nguồn nhân lực thấp. Các bệnh viện cần được nhanh chóng tăng cường nguồn nhân lực trình độ cao [13], [41], [43]. 2 Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn là Bệnh viện hạng II quy mô 590 giường kế hoạch và 60 gường xã hội hóa. Được sự quan tâm của UBND tỉnh, Sở Y tế, nhiều năm qua bệnh viện đã được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và con người.
Bệnh viện đang hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ chuyên môn, phát triển kỹ thuật, dịch vụ y tế để đáp ứng đủ các nhu cầu cơ bản về khám chữa bệnh, phấn đấu nâng hạng từ Bệnh viện tuyến tỉnh hạng II lên hạng I trong giai đoạn 2015 – 2017. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn còn gặp nhiều khó khăn về nguồn nhân lực. Đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, cơ cấu nhân lực chưa thực sự hợp lý. Trong khi nhu cầu nhân lực cho bệnh viện hiện tại cũng như tương lai ngày càng đòi hỏi ngày càng cao: Tăng cả về số lượng và chất lượng [60], [62].
Câu hỏi đặt ra cho chúng tôi là thực trạng nguồn nhân lực của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn hiện nay ra sao. Yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực y tế của Bệnh viện và vấn đề ưu tiên trong việc giải quyết nguồn nhân lực của bệnh viện Lạng Sơn là gì? và giải pháp nào để phát triển nguồn nhân lực y tế của bệnh viện trong giai đoạn tới? Xuất phát từ những nhu cầu cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nguồn nhân lực của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn, Thực trạng và giải pháp” với các mục tiêu cụ thể như sau: 1. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn năm 2015. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực y tế Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn hiện nay.
Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho việc thực hiện nhiệm vụ của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 - 2020. Thực trạng nguồn nhân lực y tế tại các Bệnh viện hiện nay 1. Một số khái niệm *Nguồn nhân lực y tế: Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, nhân lực (NL) y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế.
Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (Tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khoẻ gia đình, lang y.); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (Quân đội, trường học hay các doanh nghiệp). Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (Bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và y tế thôn bản) [40]. *Nguồn nhân lực trong các bệnh viện: Nguồn nhân lực bao gồm tất cả các cán bộ y tế (Bác sỹ (BS), dược sỹ (DS) y sỹ (YS), điều dưỡng (ĐD), kỹ thuật viên (KTV), nữ hộ sinh (NHS), dược tá…) làm việc tại bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh. Theo phân cấp của Bộ Y tế (BYT) hiện nay bố trí nhân lực cho các bệnh viện (BV) theo giường bệnh (GB).
Cơ cấu cán bộ y tế (CBYT) của BV phải hợp lý phai theo đúng thông tư 08/BYT – 2007 [5]. Tuy nhiên nhiều BV ở nước ta hiện nay vẫn chưa đáp ứng được các định mức, hơn nữa trình độ trung học và sơ học còn chiếm tỉ lệ nhiều, cán bộ y tế trung học 4 chiếm 35,63 % và sơ học chiếm 10,6 %, tỷ lệ cán bộ đại học còn thấp 37,3 %, đặc biệt tỉ lệ cán bộ sau đại học rất ít 2,5% [40]. Thực trạng nguồn nhân lực y tế hiện nay 1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới hiện nay Theo thống kê của các quốc gia và báo cáo của WHO năm 2006, toàn cầu có khoảng 59,2 triệu nhân viên y tế đang hoạt động trong công tác chăm sóc y tế, số nhân lực y tế ước tính thiếu tại thời điểm năm 2006 khoảng 4,3 triệu người bao gồm: Bác sỹ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên và Hộ sinh.
Trên thế giới có 57 quốc gia đang thiếu hụt trầm trọng nhân lực y tế và thiếu khoảng 2,4 triệu cán bộ y tế, trong đó có 36/37 nước thuộc vùng cận sa mạc Sahara - Châu Phi và một số nước rải rác ở các châu lục khác. Hơn nữa, còn có sự bất cập về phân bố không đều về mật độ nhân lực y tế giữa các khu vực của các quốc gia và trên thế giới. Tại Châu Phi, là khu vực thiếu nhân lực y tế trầm trọng nhất. Năm 2006, ở Châu lục này có tổng số CBYT là 1.000 người, tỷ lệ CBYT/10.0000 dân là 11,2, tỷ lệ BS/10.000 dân là 2, tỷ lệ ĐD, HS, KTV/10.
Tuy nhiên đến năm 2013 tỷ lệ này đã tăng lên đáng kể với 2,6 BS/10. Vùng lãnh thổ phía đông Địa Trung Hải năm 2006 có tổng số CBYT là 2.000 người, tỷ lệ BS/10. Ở các nước Đông - Nam Châu Á có tổng số 7.000 CBYT, tỷ lệ chung cả khu vực có 5 BS/10.000 dân, trong đó trung bình có 16,4 CBYT/10.000 dân, nhưng tỷ lệ phân bố bác sỹ/10.000 dân cũng có sự khác nhau giữa các nước: ở Việt nam có 6,7 BS; Phi-lip-pin có 12 BS; Malaisia có 7 BS; Lào có 4 BS. Phía Tây Thái Bình Dương có tổng số CBYT là 10.000 người, chiếm tỷ lệ 10 BS /10.000 dân và tỷ lệ CBYT/10.000 dân là 33,3 CBYT [2], [71].
Châu Âu và Châu Mỹ là hai khu vực có số lượng CBYT cao hơn nhiều so với các Châu lục khác trên thế giới, trong đó Châu Âu có tổng số CBYT là 16.000 người, tỷ lệ BS/10.000 dân là 33,2 BS và trung bình ở các nước Châu Âu có 98,2 CBYT/10.000 dân, riêng các nước như: Na Uy có tỷ lệ 5 CBYT/10.000 dân tới 361 CBYT, Phần Lan: 195 CBYT/10. Tuy nhiên, do tình trạng già hóa dân số, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng tăng, nên nhu cầu cần CBYT bổ sung ở Châu Âu cũng rất lớn, dự báo đến năm 2020 Châu Âu cần bổ sung thêm 230.000 Dược sỹ, Kỹ thuật viên, Nha sỹ và 590.000 Điều dưỡng, Hộ sinh [66], [67]. Châu Mỹ có tổng số CBYT là 21.000 người, số CBYT phục vụ chăm sóc sức khỏe cho 10.000 dân là 92 CBYT và đạt mức 24,8 BS/10. Tuy vậy, do sự gia tăng dân số và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao của người dân, tại Mỹ ước tính từ 2008 đến năm 2025 còn cần bổ sung thêm 150.000 điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh [72].
Về nhân lực Dược ở một số nước trên thế giới: Theo số liệu bảng 1.1 cho thấy tỷ lệ dược sỹ đại học (DSĐH) trên một vạn dân từ năm 2000 của Nhật Bản đã gấp 8,7 lần của Việt Nam năm 2012, còn các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Hàn Quốc tỷ lệ này đều gấp 5 - 8 lần Việt Nam, còn tỷ lệ bác sĩ trên một vạn dân là gấp 3 - 5 lần. Trong khu vực các nước ASEAN, số DSĐH trên một vạn dân tại Việt Nam năm 2012 (1,96) thấp hơn Thái Lan năm 2000 (2,5), Singapore năm 2001 (2,8), kém hơn 3 lần so với nước đứng đầu là Philippins năm 2002 (6,0). Tại Pháp, nhân lực Dược được sử dụng chủ yếu để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, tỷ lệ dược sỹ (DS) làm việc tại một số lĩnh vực như sau: tại các nhà thuốc (65%), dược bệnh viện (12%), công việc liên quan đến sinh hóa và xét nghiệm (13%), công nghiệp dược (5%), nghiên cứu giảng dạy (5%).