ĐẶT VẤN ĐỀ Nghề Y là một nghề đặc biệt liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con ngƣời, vì vậy cán bộ y tế (CBYT) phải không ngừng học tập để cập nhật những kiến thức, kỹ năng và tiến bộ mới đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân[16]. Năm 2008 Bộ Y tế đã chính thức ban hành Thông tƣ số 07/2008/TT- BYT, năm 2013 nâng cấp thành thông tƣ 22/2013/TT-BYT nhằm hƣớng dẫn công tác đào tạo liên tục cho CBYT.Trong đó qui định các CBYT hàng năm phải có nghĩa vụ học tập nâng cao trình độ chuyên môn, đồng thời giao trách nhiệm cho cho các đơn vị sử dụng nhân lực y tế tạo điều kiện để CBYT tại đơn vị thực hiện nghĩa vụ học tập[20]. Đào tạo nhân lực y tế luôn gắn liền với thực hành thực tập tại các cơ sở y tế , nó đóng vai trò quan trọng quyết định năng lực, trình độ nghề nghiệp của nhân viên y tế. Trong đó, đào tạo liên tục cho cán bộ y tế nói chung và cho đội ngũ điều dƣỡng nói riêng là một trong những động nhằm củng cố lại kiến thức, kĩ năng thực hành nghề nghiệp để tránh nguy cơ lỗi thời về yêu cầu công việc đồng thời cập nhật những kiến thức và tiến bộ mới trong lĩnh vực khoa học chăm sóc sức khỏe con ngƣời và nâng cao thực hành chuẩn năng lực điều dƣỡng.
Tuy nhiên theo đánh giá của Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo - Bộ Y tế công tác triển khai đào tạo liên tục còn chƣa đồng bộ , chƣa đƣợc quan tâm và có nhiều bất cập.Việc đánh giá thực trạng và xác định nhu cầu đào tạo (NCĐT) của CBYT là rất cần thiết nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tƣợng cần đào tạo và hình thức đào tạo cho phù hợp[20]. Trong những năm gần đây, ngành y tế đã triển khai công tác ĐTLT theo hƣớng dẫn của Bộ Y tế cho nhân viên y tế nói chung và đặc biệt cho đội ngũ ĐD nói riêng. Bởi lẽ, đây là nguồn nhân lực chiếm tỷ lệ lớn và đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe của hệ thống y tế[4]. Ở Việt Nam, ĐD đƣợc xem là một nghề độc lập, cấp bậc, trình độ đã đƣợc qui định cụ thể theo Quyết định số41/2005/QĐ-BNV ngày 22/4/2005[3].Tuy nhiên trên thực tế tại các cơ sở y tế, ĐD chƣa thực sự phát huy vai trò độc lập của mình, còn phụ thuộc nhiều vào công việc họ đảm nhận, chủ yếu theo y lệnh của bác sĩ.
Do chƣa có phân cấp cụ thể phạm vi hành nghề của ĐD theo trình độ đào tạo dẫn đến dù trình độ đào tạo sau khi ra trƣờng có khác nhau nhƣng tại các cơ sở y tế vẫn còn tình trạng ĐDĐH và CĐ thực hiện nhiệm vụ nhƣ ĐDTC[7]. 2 Bệnh viện C Thái Nguyên là bệnh viện hạng I Trực thuộc Sở Y Tế Thái Nguyên, tiền thân là bệnh viện Cty xây lắp II trực thuộc Bộ Năng lƣợng, sau chuyển tên thành BVC Thái Nguyên vào năm 1988. Bệnh viện hiện có 531 nhân viên trong đó có 265 điều dƣỡng. Chỉ tiêu giƣờng bệnh là 450 giƣờng trong đó giƣờng thực kê là 900 giƣờng.Với thƣc trạng quá tải bệnh viện, công tác điều dƣỡng còn gặp nhiều áp lực và khó khăn.
Mặc dù bệnh viện đã chú trọng đến công tác ĐTLT cho cán bộ viên chức, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế nhƣ: chƣa sắp xếp đƣợc các đối tƣợng ĐD với trình độ khác nhau thì cần đào tạo những nội dung gì, chƣơng trình đào tạo, hình thức đào tạo và nhu cầu đào tạo của ĐD nên công tác đào tạo chƣa đạt kết quả cao và chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu công việc chuyên môn tại đơn vị. Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã quy định ngƣời hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phải cập nhật kiến thức y khoa thƣờng xuyên, nhƣng chƣa quy định rõ về hình thức cập nhật kiến thức, đơn vị nào có thể tổ chức, triển khai cũng nhƣ thời lƣợng cần tham gia các tập huấn, hội nghị, hội thảo cho từng năm hoặc từng hai năm[6]. Mặt khác, chƣa có một khảo sát thực tế hay nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng và nhu cầu ĐTLT của điều dƣỡng tại bệnh viện. Chính vì vậy để có các khuyến nghị dựa trên cơ sở khoa học giúp cho công tác tổ chức ĐTLT của ĐD thực hiện tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng các khoa lâm sàng bệnh viện C Thái Nguyên năm 2016” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1) Mô tả thực trạng công tác ĐTLT cho đội ngũ điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng bệnh viện C Thái Nguyên năm 2014 – 2015.
2) Xác định nhu cầu đào tạo liên tục của đội ngũ điều dƣỡng lâm sàng bệnh viện nhằm đƣa ra khuyến nghị cho lãnh đạo bệnh viện về việc lập kế hoạch ĐTLT cho đội ngũ điều dƣỡng năm 2016. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đào tạo liên tục 1. Khái niệm đào tạo liên tục - Đào tạo liên tục (ĐTLT): không phải là một khái niệm mới tại Việt Nam, khái niệm này đã xuất hiện trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh và rất nhiều các văn bản quản lý cũng nhƣ những tài liệu hƣớng dẫn quản lý do Bộ Y tế ban hành.
Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn bao gồm đào tạo bồi dƣỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và những khoá đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia[12]. Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dƣỡng kiến thức, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education – CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development – CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [4]. - Cán bộ y tế làm việc trong các cơ sở y tế phải có nghĩa vụ tham gia các khóa đào tạo liên tục nhằm đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ đang đảm nhiệm.Việc thực hiện nghĩa vụ đào tạo liên tục là một trong những tiêu chí để thủ trƣởng đơn vị đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và quá trình phát triển nghề nghiệp của cán bộ y tế. Cán bộ y tế là ngƣời hành nghề khám bệnh, chữa bệnh không thực hiện đủ nghĩa vụ đào tạo trong 2 năm liên tiếp theo quy định tại Thông tƣ này còn bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
- Đào tạo y khoa liên tục đƣợc định nghĩa là “Một hoạt động đƣợc xác định rõ ràng để phát triển chuyên môn của cán bộ y tế và dẫn tới việc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân. CME bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mong muốn thực hiện để có thể thƣờng xuyên liên tục nâng cao năng lực chuyên môn của mình” [20]. 5 Khái niệm Đào tạo liên tục cán bộ y tế bắt đầu đƣợc đƣa vào ngành và đƣợc tổ chức có hệ thống từ những năm 1990 dƣới sự giúp đỡ của Dự án Hỗ trợ đào tạo nhân lực cán bộ Y tế (Dự án 03/SIDA Thụy Điển). - Liên quan đến ĐTLTL, nội dung Thông tƣ 22/2013/TT-BYT đã qui định rõ về các yêu cầu đào tạo trong ngành y tế: + Việc thực hiện nghĩa vụ ĐTLT là một trong nhƣng tiêu chí để thủ trƣởng đơn vị đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và quá trình phát triển nghề nghiệp của cán bộ y tế.
+ Cán bộ y tế là ngƣời hành nghề khám bệnh, chữa bệnh không thực hiện đủ nghĩa vụ đào tạo trong 2 năm liên tiếp theo qui định của Thông tƣ này sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo qui định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. + Ngƣời đứng đầu cơ sở y tế có trách nhiệm tạo điều kiện để cán bộ y tế đƣợc tham gia các khóa đào tạo liên tục. + Về thời gian ĐTLT: CBYT đã đƣợc cấp chƣng chỉ hành nghề khám bệnh, chƣa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp. CBYT không thuộc trƣờng hợp trên có nghĩa vụ tham gia ĐTLT tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp, trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học.
- Tầm quan trọng của ĐTLT: Việc cập nhật thƣờng xuyên, liên tục những kiến thức mới, kĩ thuật và tiến bộ mới của nền y học giúp cho bản thân ngƣời CBYT nói chung và đội ngũ ĐD nói riêng là rất quan trọng nhằm hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn, đồng thời đây cũng là nhiệm vụ bắt buộc đối với ngƣời hành nghề y tế, nghề đặc trƣng gắn liền với tính mạng, sức khỏe của con ngƣời [26]. - Các hình thức đào tạo liên tục nhƣ: Tập huấn, đào tạo chuyển giao kỹ thuật, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn trong và ngoài nƣớc theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến (E-learning) đƣợc cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận, thời gian tham gia đào tạo liên tục đƣợc tính theo thực tế chƣơng trình đào tạo; Tham gia hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nƣớc về lĩnh vực chuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức căn cứ vào chƣơng trình của hội thảo, hội nghị, tọa đàm. Thời gian tham gia đào tạo đƣợc tính cho ngƣời chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và ngƣời tham dự tối đa 4 tiết học cho mỗi hội thảo/hội nghị/tọa đàm; Thực hiện nghiên cứu khoa học, hƣớng dẫn luận án, luận văn, viết 6 bài báo khoa học đã đƣợc công bố theo quy định, đƣợc tính tối đa 12 tiết học cho ngƣời hƣớng dẫn luận án, chủ trì/thƣ ký đề tài cấp Nhà nƣớc hoặc cấp Bộ, 8 tiết học cho hƣớng dẫn luận văn hoặc chủ trì/thƣ ký đề tài cấp cơ sở (tính tại thời điểm luận văn đƣợc bảo vệ thành công hoặc đề tài đƣợc nghiệm thu đạt); biên soạn giáo trình chuyên môn đƣợc tính tối đa không quá 8 tiết đối với 1 tài liệu do ngƣời đứng đầu đơn vị xem xét (tính vào thời điểm xuất bản), cán bộ y tế không phải là giảng viên của cơ sở giáo dục tham gia giảng dạy liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ đƣợc tính theo thời gian thực tế [12].