Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vị trí, chức năng, vai trò của điều dưỡng Khái niệm về điều dưỡng Điều dưỡng là một môn nghệ thuật và khoa học nghiên cứu cách chăm sóc bản thân khi cần thiết, chăm sóc người khác khi họ không thể tự chăm sóc. Tuy nhiên tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà định nghĩa về điều dưỡng được đưa ra khác nhau [6],[7]. Tại Việt Nam điều dưỡng viên (ĐDV) từng được gọi là y tá.
Hiện nay, theo cách dịch mới và thống nhất chuẩn quốc tế, các bệnh viện đã thống nhất dùng thuật ngữ điều dưỡng viên. Theo Nightingale 1860: “Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ”; Theo Virginia Handerson 1960: “Chức năng duy nhất của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của người bệnh hoặc người khỏe, hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá thể có thể tự thực hiện nếu họ có sức khỏe, ý chí và kiến thức. Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt”; Theo Hội điều dưỡng Mỹ năm 1980: “Điều đưỡng là chẩn đoán và điều trị những phản ứng của con người đối diện với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra” [6],[7]. Vị trí của điều dưỡng viên Trong các cơ sở y tế, người bệnh là đối tượng phục vụ của ĐDV.
Do vậy ĐDV cần phải hiểu mỗi cá thể ở một phương diện nào đó giống tất cả mọi người, ở một phương diện khác chỉ giống một số người, có những phương diện không giống ai. Con người cũng có cá tính riêng biệt, có thể thay đổi khi bị tác động bởi các yếu tố sinh 4 5 học, tâm lý, xã hội, tinh thần trong môi trường sống, làm việc và tùy thuộc vào khả năng đáp ứng của mỗi con người đó. Phân loại của Maslow: rất hữu ích để làm nền tảng cho ĐDV thực hiện công việc nhận định tình trạng về bệnh tật của người bệnh, về những giới hạn và nhu cầu đòi hỏi sự can thiệp chăm sóc. Những nhu cầu này bao gồm: nhu cầu về thể chất và sinh lý; nhu cầu về an toàn và an ninh; nhu cầu về tình cảm và mối quan hệ; nhu cầu được tôn trọng; nhu cầu tự hoàn thiện.
Theo Virginia Henderson thì thành phần của chăm sóc cơ bản bao gồm 14 yếu tố. ĐDV cần nhận biết nhu cầu người bệnh để có kế hoạch đáp ứng trong quá trình thực hiện CSNB, bao gồm đáp ứng nhu cầu về: hô hấp, ăn uống, giúp đỡ người bệnh về sự bài tiết, tư thế, vận động; …[6],[7]. Chức năng của điều dưỡng viên Người điều dưỡng viên có trình độ đại học phải là người thực hiện được các chức năng [6]: - Chức năng phụ thuộc: là thực hiện có hiệu quả các y lệnh của bác sỹ. - Chức năng phối hợp: là phối hợp với bác sỹ trong việc CSNB; phối hợp thực hiện các thủ thuật, thực hiện theo dõi và CSNB để cùng bác sỹ hoàn thành nhiệm vụ chữa bệnh để người bệnh sớm được ra viện.
- Chức năng chủ động: bản thân người điều dưỡng chủ động CSNB; thực hiện “Quy trình điều dưỡng” để chăm sóc toàn diện người bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu mà bệnh nhân và gia đình họ mong muốn [7]. Vai trò của điều dưỡng viên - Vai trò thực hành đạt được thông qua đánh giá việc áp dụng quy trình điều dưỡng như: Nhận định; chẩn đoán; lập kế hoạch chăm sóc; thực hiện kế hoạch và đánh giá người bệnh sau khi thực hiện chăm sóc [6],[7]. - Vai trò lãnh đạo: ĐDV sử dụng kỹ năng lãnh đạo trong nhiều hoàn cảnh khi thực hiện nhiệm vụ. - Tại bệnh viện, ĐDV chủ động giúp đỡ người bệnh để đáp ứng các nhu cầu cơ bản khi họ yêu cầu hoặc thực hiện các công việc chăm sóc điều trị cùng bác sỹ cho người bệnh.
6 Nhiều khi người bệnh cản trở việc thực hiện, ĐDV cần phát huy vai trò lãnh đạo bằng cách thuyết phục, giải thích để họ cộng tác trong quá trình điều trị bệnh để mau chóng khỏi bệnh. - Tại cộng đồng, ĐDV giúp đỡ người bệnh cô đơn, một gia đình, hoặc cụm dân cư để thay đổi các hành vi liên quan đến sức khỏe. Người điều dưỡng cần sử dụng các văn bản dưới luật, các chiến dịch, các công trình dịch vụ công cộng hướng về sức khỏe, các dự án hỗ trợ,… để làm tốt vai trò lãnh đạo của mình [6],[7]. - Vai trò nghiên cứu: nghiên cứu điều dưỡng là góp phần tạo cơ sở khoa học cho hành nghề điều dưỡng.
Thông qua các công trình nghiên cứu để xác định các kết quả của chăm sóc điều dưỡng và mang lại các bằng chứng khoa học thực tiễn từ đó rút kinh nghiệm và cải thiện chất lượng chăm sóc. Khái niệm y đức và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của ĐDV Khái niệm y đức Khái niệm đạo đức: theo Từ điển tiếng Việt: “Đạo đức là những phép tắc căn cứ vào chế độ kinh tế và chế độ chính trị mà đặt ra để quy định quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội, cốt để bảo vệ chế độ kinh tế, chế độ chính trị”. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:“Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn xã hội. Theo Hội Y học thế giới thì: “Đạo đức là một phạm trù đề cập đến giáo lý – sự phản ánh một cách thận trọng, hệ thống và sự phân tích các quyết định của lương tâm và hành vi trong quá khứ, hịên tại hoặc tương lai” [8],[9].
Yếu tố chi phối đạo đức: chế độ chính trị, luật pháp; phong tục tập quán, dân tộc; tôn giáo; tuổi; giới; nghề nghiệp; học vấn;… Đạo đức y học: là một khái niệm nằm trong phạm trù đạo đức. Đạo đức y học là một nhánh của đạo đức đề cập đến vấn đề đạo đức trong thực hành y học. Đạo đức y học là những quy tắc hay chuẩn mực mà những người hành nghề y dược phải tuân thủ trong thực hành nghề nghiệp. 6 7 Đạo đức y học bao gồm những quy tắc có tính đặc thù nghề nghiệp và bao gồm những quy định về luật pháp trong thực hành nghề nghiệp.
Do vậy phạm trù đạo đức y học vừa mang những thuộc tính chung cho tất cả những người hành nghề y trên thế giới, vừa có những quy định riêng phụ thuộc luật pháp của từng quốc gia. Các chuẩn mực đạo đức ngành điều dưỡng trên thế giới Chuẩn mực đạo đức của Hội điều dưỡng thế giới (ICN) [26] ICN là hiệp hội gồm 130 thành viên là các Hội điều dưỡng của các quốc gia, với hơn 13 triệu ĐDV. Được thành lập năm 1899, ICN là tổ chức quốc tế đầu tiên và rộng lớn nhất về nghiệp vụ chăm sóc sức khỏe. Bản quy tắc quốc tế về đạo đức cho ĐDV lần đầu được thông qua bởi ICN vào năm 1953.
Bộ quy tắc này đã được chỉnh sửa và cập nhật lại qua một số lần. Bản mới nhất được chỉnh sửa và hoàn thiện năm 2012 [26]. Bộ quy tắc mới nhất xác nhận chăm sóc điều dưỡng là được tôn trọng và không phân biệt tuổi tác, màu da, tín ngưỡng, văn hóa, khuyết tật hay tình trạng bệnh, giới tính, quốc tịch, chính trị, sắc tộc hoặc tình trạng xã hội. Điều dưỡng và người dân - Chức năng chuyên nghiệp chính của ĐDV là chăm sóc điều dưỡng theo yêu cầu.
- Trong cung cấp dịch vụ CSNB, ĐDV được phát triển trong môi trường mà quyền con người, giá trị khách hàng và niềm tin tâm linh của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng được tôn trọng. - ĐDV đảm bảo rằng mỗi cá nhân người bệnh nhận được sự cung cấp đầy đủ các thông tin một cách kịp thời về biện pháp chăm sóc, điều trị phù hợp với phong tục, tập quán và văn hóa riêng trong đó có dựa trên sự hài lòng của người bệnh/gia đình người bệnh. - đồng ĐDVkhi nghiệp bảo thậtmật cầnthông thiết.tin cá nhân của người bệnh và chỉ chia sẻ thông tin với - ĐDV chia sẻ với cộng đồng các đề xuất; hỗ trợ và hợp tác với cộng đồng trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng đặc biệt với nhóm dân số dễ bị tổn thương. - ĐDV đảm bảo sự công bằng trong việc phân bổ các nguồn lực, tiếp cận dịch vụ y tế, và các dịch vụ về xã hội, kinh tế khác.
8 - ĐDV ủng hộ các giá trị như: được tôn trọng, sự thông cảm, tình thương, sự tin cậy và sự chính trực. Điều dưỡng và thực hành - ĐDV có trách nhiệm cá nhân trong thực hành điều dưỡng và duy trì năng lực bằng việc liên tục học hỏi. - ĐDV duy trì tiêu chuẩn sức khỏe cá nhân để đảm bảo khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc. - ĐDV nhận biết được năng lực và hạn chế của cá nhân, chấp nhận sự hỗ trợ và giao phó trách nhiệm khi cần.
- ĐDV phải duy trì tiêu chuẩn về tư cách cá nhân trong mọi lúc thông qua sự thể hiện tốt về chuyên môn nhằm góp phần tăng niềm tin của cộng đồng. - ĐDV cần đảm bảo sử dụng các kỹ thuật và tiến bộ khoa học phù hợp, sự an toàn, tôn trọng giá trị con người khi cung cấp dịch vụ. - ĐDV đấu tranh cổ vũ và duy trì văn hóa thực hành, thúc đẩy hành vi có đạo đức và đối thoại mở. Điều dưỡng và nghiệp vụ - ĐDV có vai trò chính trong xác định, triển khai các tiêu chuẩn được chấp nhận trong thực hành chăm sóc lâm sàng, quản lý, nghiên cứu và đào tạo.
- ĐDV được chủ động trong phát triển kiến thức nghiệp vụ dựa trên những nghiên cứu nền tảng nhằm hỗ trợ các thực hành dựa trên bằng chứng. - ĐDV chủ động trong phát triển, duy trì nền tảng về giá trị chuyên môn nghiệp vụ. - Hoạt động điều dưỡng: thông qua các tổ chức chuyên môn, tham gia vào quá trình tạo môi trường thực hành tích cực và duy trì sự an toàn về y tế cho xã hội cũng như đạt hiệu quả kinh tế trong chăm sóc. - Điều dưỡng thực hành nhằm duy trì và bảo vệ môi trường thiên nhiên và sự hiểu biết về tác động của thiên nhiên đối với sức khỏe.
8 9 - ĐDV đóng góp các ý kiến về chuyên môn, đạo đức, các thách thức trong thực hành nghiệp vụ và giám sát vi phạm đạo đức.