Chương 1 đã trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và các chương trình bày trong luận văn. Chương 2 sẽ hệ thống cơ sở lý luận về một số khái niệm nghiên cứu, lý thuyết về dịch vụ chăm sóc sức khỏe và trình bày nội dung một số khẩu phần ăn dinh dưỡng bệnh lý thường gặp giúp hình dung được tổng quan về ngành y tế tại Việt Nam trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung. Tiếp theo, các nghiên cứu trong và ngoài nước có các biến sô liên quan đến hình thành bảng câu hỏi và mô hình dự kiến trên cơ sở lý thuyết về mức sẵn lòng chi trả theo quan điểm kinh tế học và các phương pháp xác định mức sẵn lòng chi trả. Từ đó là cơ sở để đề xuất mô hình lý thuyết, thang đo và các giả thuyết trong chương tiếp theo.
Một số khái niệm nghiên cứu 2. Dinh dưững Theo Hán Việt từ điển, dinh dưỡng là lấy chất bổ trong đồ ăn để nuôi dưỡng thân thể. Việc ăn uống là một trong những nhu cầu sinh lý thiết yếu cho đời sống con người. Trong đó thực phẩm đóng vai trò căn bản trong việc cung cấp nguồn năng lượng sống cho cơ thể.
Thực phẩm được cấu tạo bởi chất bổ dinh dưỡng (Nutrients) bao gồm những thành phần hóa học để nuôi sống cơ thể. Trong việc nuôi dưỡng cơ thể, nhằm hữu dụng hóa, thực phẩm phải được trải qua hai tiến trình: cung cấp (do nhu cầu ăn uống) và biến năng (do phản ứng hóa học bên trong cơ thể giúp cho các chất hóa học trong thực phẩm được tiến hành cung cấp và biến năng đồ ăn còn được gọi là dinh dưỡng (Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, 2009). An toàn thực phẩm Theo điều 2 của Luật an toàn thực phẩm năm 2011 thì “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người. Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban 6 hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, tính mạng con người”.
Bệnh viện Bệnh viện là cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật được tổ chức thành các khoa, phòng với trang thiết bị và cơ sở hạ tầng thích hợp để thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng cung cấp các dịch vụ y tế cho người bệnh. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, WHO (1946) định nghĩa: “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội y tế, chức năng của nó là chăm sóc toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường cư trú. Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học. Đó là một phức hợp mang tính hệ thống luôn luôn động”.
Phức hợp là hệ thống bao gồm nhiều yếu tổ cấu tạo và liên kết với nhau từ khâu nhập viện, chẩn đoán, điều trị, theo dõi, lượng giá. Ngoài ra, nó còn liên hệ với nhiều yếu tố khác như cơ sở vật chất, trang thiết bị y khoa, khoa học y học, khả năng chuyên môn, đạo đức xã hội, kinh phí hoạt động. đều đòi hỏi phải có chuẩn mực cao vì sản phẩm của bệnh viện là sức khỏe của con người. Hệ thống: Bệnh viện là một tổ chức động vì luôn có sự thay đổi theo không gian và thời gian, mục tiêu nham tới, phương pháp quản lý mới, sự phát triển của trang thiết bị y tế.
Ngoài ra, khi các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội có những thay đổi lớn, bệnh viện có phương pháp quản lý phù hợp với từng thời kỳ. Lý thuyết về dịch vụ chăm sóc sức khỏe 2. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe Dịch vụ có tính chất vô hình nên bệnh nhân thường tìm kiếm những bằng chứng (hay những yếu tố “hữu hình”) trong những giao dịch mà họ thực hiện với các bệnh viện. Những bàng chứng này gồm có: con người (nhân viên trong bệnh viện), bác sĩ, kĩ thuật viên, khách hàng trực tiếp, khách hàng gián tiếp, khách hàng nội bộ và những khách hàng khác.
); quá trình xử lý dịch vụ (vòng luân chuyển 7 của hoạt động; các bước thực hiện dịch vụ. Tất cả những yếu tố này đều ít nhiều xuất hiện trong các giao dịch cụ thể giữa bệnh nhân với bệnh viện và là yếu tố quan trọng trong việc quản lý chất lượng dịch vụ, tạo ra sự thỏa mãn cho khách hàng. Theo định nghĩa của WHO (1946, 2006): “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm hồn và xã hội, không chỉ có nghĩa là không bệnh hay tật”. Sức khỏe là vốn quý của mỗi người và của toàn xã hội, đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, mỗi gia đình.
Sức khỏe có được nhờ 5 yếu tố: thức ăn, nước uống, phúc lợi gia đình, phúc lợi xã hội, dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nói khác đi sức khỏe phụ thuộc vào dân số, môi trường và hệ thống chăm sóc sức khỏe. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể phân loại và đánh giá theo nhiều cách, nhìn chung có thể xem xét xếp theo 3 cấp độ sau: Chăm sóc sức khỏe sơ cấp: là những hành vi phòng và trị bệnh nhằm duy trì một môi trường an toàn cho sức khỏe. Bao gồm: giáo dục hành vi sức khỏe, chủng ngừa, khám sức khỏe định kỳ, những đáp ứng của người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, từ đó đưa ra chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.
Chăm sóc sức khỏe thứ cap: Neu chăm sóc sức khỏe sơ cấp không thực hiện tốt tại tuyến ban đầu sẽ chuyển sang chăm sóc sức khỏe thứ cấp. Ở đây sẽ có những trang thiết bị, cận lâm sàng phong phú hơn để chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân. Chăm sóc sức khỏe đệ tam cấp: Dành cho những tuyến điều trị chuyên sâu, kỹ thuật cao của thành phố và trung ương. Ngoài ra, còn có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho những bệnh nhân đặc biệt (như bệnh nhân tâm thần.) hoặc cho một nhóm dân cư nhất định.
Song song đó việc cung ứng các dạng dịch vụ là do những kiểu hình đa dạng khác nhau trong từng hệ thống. Bệnh viện từ chỗ chỉ là một cơ sở từ thiện để chữa bệnh truyền nhiễm, sau hơn 1 thế kỷ phát triển cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão của con người về mặt y học, bệnh viện đã phát triển nhanh chóng với nhiều chuyên khoa kỹ thuật cao, chữa được nhiều bệnh hiểm nghèo hơn, hoạt động phong phú với một dây truyền phức hợp và một tổ chức rộng hơn trước nhiều. Những quan điểm mới về chăm sóc sức khỏe Hàng trăm năm trước đây, cụ Hải Thượng Lãn Ông đã nói và viết: “Suy nghĩ sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ tính mạng con người giữa: sống chết trong tay mình nắm, phúc họa một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không chọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý ấy chăng”.
Ngoài ra, trong bộ sách Hải Thượng Y tông Tâm lĩnh (thế kỷ XVIII) gồm 66 quyển, 28 quyển ông đề cập đến vấn đề dinh dưỡng “Y đức - Y lý, Y thuật, Dược và Dinh dưỡng”. Ở Việt Nam: trước năm 2002, trong quy chế bệnh viện chưa có quy định nào bắt buộc các bệnh viện hoặc các cơ sở y tế lấy ý kiến góp ý của người bệnh một cách định kỳ mà chỉ tồn tại duy nhất một hình thức đánh giá chất lượng phục vụ nhìn từ góc độ của chính người bệnh đó là góp ý tại mỗi khoa phòng. Cách đánh giá này không được khách quan vì nhiều lý do, lý do quan trọng nhất là vì sổ góp ý là một trong những nội dung kiểm tra chéo giữa các bệnh viện, sổ góp ý thường là ý kiến khen ngợi là chính, có phàn nàn, phê phán cũng sơ sài vì tâm lý chung của người Việt Nam là ngại viết, ngay cả khi có vấn đề bức xúc khiến họ bực bội hoặc cảm kích. Vì vậy, những thông tin từ sổ góp ý từ các khoa phòng không thể dùng để phân tích, đánh giá chất lượng điều trị hoặc mức độ hài lòng của người bệnh.
Trong thư chúc mừng hội nghị cán bộ y tế ngày 27/02/1955 có đoạn Bác Hồ nói: “. Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang.
Vì vậy, cán bộ cần phải yêu thương chăm sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như chính mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu”. Vấn đề chất lượng công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân tại bệnh viện đã được các nhà lãnh đạo thường xuyên quan tâm. Ngày 17/10/1995 Thủ tướng Chính Phủ ra chỉ thị số 661/CT-TTg chỉ đạo về việc khám chữa bệnh ngay cho những người bị bệnh cấp cứu hoặc chấn thương ngoại.
Thực hiện chỉ thị trên các bệnh viện đã có sự cái tiến rõ rệt. “Nhiều bệnh viện đã có cố gắng, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành vượt mức từ 100-120%, những chỉ tiêu cơ bản về khám bệnh nội trú, 9 phẫu thuật cũng như đã có một số tiến bộ thực hiện các chê độ câp cứu, thường trực và tiếp đón bệnh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại chủ quan biểu hiện từng nơi từng lúc cần phải khắc phục về tinh thần thái độ và trách nhiệm trong chăm sóc, điều trị, vệ sinh trật tự, quy chế, chế độ. Để củng cố và nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh nhằm từng bước đưa bệnh viện tiến lên chính quy hiện đại.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương ra chỉ thị số 11/BYT-CT ngày 11/12/1995 củng cố công tác phục vụ người bệnh tại bệnh viện, cụ thể như sau: “Tổ chức chăm sóc tốt mọi sinh hoạt của người bệnh tại bệnh viện. Chăm sóc, khám bệnh, chẩn đoán, diều trị tốt cho người bệnh. Bảo đảm trật tự vệ sinh. Nâng cao tinh thần thái độ, trách nhiệm đối với người bệnh”.