CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Thời gian chờ khám bệnh Thời gian chờ khám bệnh được định nghĩa là tổng thời gian chờ từ lúc người bệnh đăng ký khám bệnh cho đến khi người bệnh được nhận thuốc trong quy trình khám bệnh. Thời gian khám bệnh bao gồm cả thời gian chờ và thời gian được khám tại từng khâu trong quy trình khám bệnh (QTKB) [21].
Thời gian chờ: là khoảng thời gian mất đi của người bệnh khi chưa tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) trong từng bước của quy trình khám bệnh (KB). Thời gian được khám: là khoảng thời gian người bệnh (NB) được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại từng giai đoạn trong quy trình khám bệnh. Thời gian tiếp đón người bệnh Thời gian tiếp đón người bệnh là thời gian từ khi nhân viên y tế phát số thứ tự cho NB đến khi nhân viên y tế thông báo người bệnh vào khám theo số thứ tự [2]. Thời gian khám Lâm sàng và chẩn đoán Thời gian khám lâm sàng (LS) và chẩn đoán là thời gian từ khi nhân viên Y tế thông báo NB vào khám theo số thứ tự cho đến khi bác sỹ (BS) khám tại phòng khám chỉ định điều trị, kê đơn và in đơn thuốc điều trị hoặc chỉ định vào viện [2].
Thời gian thanh toán viện phí Thời gian thanh toán viện phí là thời gian từ khi BS khám tại phòng khám chẩn đoán và chỉ định, kê đơn điều trị cho đến khi nhân viên Y tế thu tiền thanh toán của người bệnh [2]. Thời gian phát và lãnh thuốc Thời gian phát và lãnh thuốc là thời gian từ khi BS kê đơn cho người bệnh đến khi nhân viên y tế phát thuốc cho người bệnh [2]. Thời gian chờ khám bệnh theo chỉ tiêu phấn đấu của Bộ Y tế đặt ra - Khám lâm sàng đơn thuần: thời gian trung bình dưới 2 giờ. 5 - Khám lâm sàng có thêm 01 kỹ thuật xét nghiệm/ chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng (XN cơ bản, chụp X quang, siêu âm): thời gian trung bình dưới 3 giờ.
- Khám lâm sàng có thêm 02 kỹ thuật phối hợp cả xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh hoặc xét nghiệm và thăm dò chức năng (xét nghiệm cơ bản, chụp X quang thường quy, siêu âm): thời gian trung bình dưới 3,5 giờ. - Khám lâm sàng có thêm 03 kỹ thuật phối hợp cả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng (xét nghiệm cơ bản, chụp X quang thường quy, siêu âm, nội soi) thời gian trung bình dưới 4 giờ [2]. Khám bệnh Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết tiến hành chỉ định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng (CLS), thăm dò chức năng (TDCN) để chẩn đoán và xác định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận [15]. Khoa khám bệnh Khoa khám bệnh (KKB) là một đơn vị nằm trong bệnh viện đa khoa hoặc chuyên khoa, có nhiệm vụ tiếp đón, khám bệnh, phân loại và xử lý ban đầu cho người bệnh thuộc phạm vi phụ trách.
Khoa khám bệnh là bộ mặt bệnh viện, là nơi tiếp xúc đầu tiên của nhân viên bệnh viện với người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh. Vì vậy đòi hỏi phải có tổ chức chặt chẽ, khoa học, có đội ngũ cán bộ công chức, đảm bảo chất lượng chuyên môn cũng như tinh thân thái độ phục vụ tốt để có thể giải quyết công việc một cách nhanh chóng, kịp thời, chuyên nghiệp và hiệu quả [19]. Quy trình khám bệnh Quá trình khám bệnh là cách thức cụ thể để tiến hành một quá trình KB, là sự sắp xếp các hoạt động khám bệnh từ khi người bệnh đến bệnh viện (BV) cho đến khi ra về hoặc nhập viện. Theo hướng dẫn Bộ Y tế quy trình khám bệnh gồm 04 bước [2].
Tiếp đón bệnh nhân Khám lâm sàng và chẩn đoán Thanh toán viện phí 6 Phát và lãnh thuốc 1. Phương thức đo lường thời gian khám và thời gian chờ Người nghiên cứu căn cứ vào phần mềm đo lường thời gian khám bệnh được cài đặt trên hệ thống mạng nội bộ của bệnh viện: mỗi người bệnh đến khám được cung cấp 01 thẻ từ để ghi nhận thời gian. Tại mỗi vị trí lúc bắt đầu và kết thúc đều được ghi nhận. Kể từ lúc đăng ký khám bệnh, người bệnh được khám, chỉ định CLS, thu tiền, cấp thuốc.
Tất cả những các ghi nhận này đều được máy tính tự động ghi lại một cách chính xác. Mỗi một người bệnh được cấp một mã số riêng biệt. Người nghiên cứu căn cứ vào các dữ liệu trên máy tính để tính thời của mỗi giai đoạn trong trong quy trình khám bệnh. Cải tiến quy trình khám bệnh tại bệnh viện của Bộ Y tế Bước 1: Tiếp đón người bệnh Về phía bệnh nhân phải có trách nhiệm lấy số thứ tự để làm thủ tục khám bệnh; xuất trình thẻ bảo hiểm y tế (BHYT), giấy tờ tùy thân có dán ảnh, giấy chuyển viện hoặc giấy hẹn tái khám; nhận phiếu khám bệnh và số thứ tự tại phòng khám; đối với những trường hợp vượt tuyến, trái tuyến, bệnh nhân có nguyện vọng khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu thì bệnh nhân tạm ứng tiền khám, chữa bệnh [2].
Về phía nhân viên tiếp đón phải có trách nhiệm bố trí các quầy tiếp đón, kiểm tra thẻ BHYT và các giấy tờ liên quan; nhập thông tin bệnh nhân vào máy vi tính, xác định buồng khám phù hợp, in phiếu khám bệnh và phát số thứ tự khám, giữ thẻ BHYT, giấy chuyển viện và giấy hẹn tái khám (và chuyển tập trung về bộ phận thanh toán ra viện); thu tiền tạm ứng đối với những trường hợp bệnh nhân vượt tuyến, trái tuyến, người bệnh có nguyện vọng khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu (theo quy định cụ thể của bệnh viện). Bước 2: Khám lâm sàng và chẩn đoán Tùy theo tình trạng bệnh, thầy thuốc có thể chỉ định xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng hoặc chẩn đoán xác định và kê đơn điều trị mà không cần chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng. Trường hợp khám lâm sàng, chẩn đoán và chỉ định điều trị (không có xét 7 nghiệm, thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh) thì bệnh nhân phải có trách nhiệm chờ khám theo số thứ tự đã được ghi trên phiếu khám bệnh, vào khám khi được thông báo. Đồng thời về phía bệnh viện phải có trách nhiệm thông báo người bệnh vào khám theo số thứ tự; bố trí buồng khám lâm sàng, chuyên khoa; khám, ghi chép thông tin về tình trạng bệnh, chẩn đoán, chỉ định điều trị; kê đơn thuốc, in đơn thuốc (in 3 liên cho bệnh nhân, kế toán và Khoa Dược); ký phiếu thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh và hướng dẫn bệnh nhân đến bộ phận thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
Nếu người bệnh phải nhập viện lưu theo dõi hoặc điều trị nội trú thì phải làm bệnh án lưu, nhập viện và ứng viện phí [2]. Trường hợp khám lâm sàng, có xét nghiệm, chẩn đoán và chỉ định điều trị (không có thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh) thì bệnh nhân phải có trách nhiệm chờ khám theo số thứ tự đã được ghi trên phiếu khám bệnh, vào khám khi được thông báo; nhận phiếu chỉ định xét nghiệm từ bác sĩ khám, đến nơi lấy mẫu xét nghiệm, nộp phiếu chỉ định xét nghiệm và chờ đến lượt, phối hợp với kỹ thuật viên xét nghiệm để lấy mẩu xét nghiệm. Quay về buồng khám bệnh, chờ đến lượt, nhận chỉ định điều trị hoặc đơn thuốc và về nơi làm thủ tục chi trả viện phí hoặc đồng chi trả BHYT. Đồng thời bệnh viện cũng phải có trách nhiệm đối với vị trí phòng khám là thông báo bệnh nhân vào khám theo số thứ tự, khám lâm sàng, ghi chép thông tin về tình trạng bệnh, chỉ định xét nghiệm, in phiếu xét nghiệm; chỉ dẫn bệnh nhân đến địa điểm làm xét nghiệm theo chỉ định.
Ngoài ra tại vị trí lấy mẩu xét nghiệm, bệnh viện phải có trách nhiệm bố trí đủ điểm lấy mẩu xét nghiệm phù hợp với lưu lượng bệnh nhân, nơi lấy mẫu xét nghiệm được đặt tại khoa Khám bệnh; nhận phiếu chỉ định từ bệnh nhân; hướng dẫn bệnh nhân chuẩn bị và lấy mẫu xét nghiệm. Tại khoa Xét nghiệm thì thực hiện xét nghiệm, chuyển trả kết quả xét nghiệm CLS về phòng khám nơi chỉ định [2]. Trường hợp khám lâm sàng, thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chẩn đoán bệnh và chỉ định điều trị thì trách nhiệm bệnh nhân phải chờ theo số thứ tự đã được ghi trên phiếu khám bệnh. Vào khám khi được thông báo, nhận phiếu kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh từ bác sĩ khám, đến nơi làm kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, nộp 8 phiếu chỉ định và chờ đến lượt, phối hợp theo chỉ dẫn của kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh để thực hiện kỹ thuật.
Chờ nhận kết quả chẩn đoán hình ảnh và quay lại buồng khám, nộp kết quả chẩn đoán cho buồng khám, chờ bác sĩ khám chẩn đoán và chỉ định điều trị, nhận chỉ định điều trị, đơn thuốc và về nơi làm thủ tục chi trả viện phí hoặc đồng chi trả BHYT. Đồng thời về phía bệnh viện phải có trách nhiệm tại vị trí phòng khám bệnh là phải thông báo bệnh nhân vào khám theo số thứ tự; khám lâm sàng ghi chép thông tin về tình trạng, chỉ định kỷ thuật chẩn đoán hình ảnh, in phiếu chỉ định; chỉ dẫn bệnh nhân đến nơi thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh. Tại nơi thực hiện kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh bệnh viện có trách nhiệm là nên đặt nơi thực hiện kỹ thuật tốt nhất tại khoa Khám bệnh nhằm tạo thuận lợi cho bệnh nhân, giảm khoảng cách di chuyển và thuận tiện cho bệnh nhân. Trong trường hợp chưa thể bố trí được thì có sơ đồ hướng dẫn cụ thể cho bệnh nhân, kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh nhận phiếu chỉ định từ bệnh nhân, hướng dẫn bệnh nhân chẩn bị và phối hợp thực hiện kỹ thuật; trả kết quả chẩn đoán hình ảnh, kèm phim, ảnh (nếu có) cho người bệnh.
Người bệnh quay lại phòng khám, nộp kết quả chẩn đoán hình ảnh và phim, ảnh kem theo; tại phòng khám bệnh, bác sĩ phải xem xét kết quả, chẩn đoán và chỉ định điều trị, kê đơn [2].