CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thông tin chung 1. Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động [11].
Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai [11]. Nhân lực y tế Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y.); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) [37].
Có hai khái niệm thường được sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y tế. Khái niệm Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến cơ chế nhằm phát triển kỹ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổ chức công việc [35]. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến khái niệm quản lý nguồn nhân lực. Theo WPRO, “quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất.
Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý” [42]. Theo quan niệm trước đây, quản lý nguồn nhân lực trước tiên chỉ tập trung vào việc tuyển dụng, xác 5 định mức lương và cơ chế tăng lương, quản lý bảo hiểm xã hội, đánh giá công việc về mặt hành chính có kèm theo động lực khuyến khích, sa thải khi cần thiết, cũng như việc đào tạo và các nhiệm vụ quản lý hành chính khác. Trách nhiệm của nhà quản lý là thực hiện các nhiệm vụ đó hiệu quả, hợp pháp và đảm bảo sự công bằng và nhất quán. Tuy nhiên, theo quan niệm hiện nay, quản lý nguồn nhân lực được hiểu rộng hơn, bao gồm cả nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực.
Báo cáo chung tổng quan ngành y tế về Nhân lực y tế ở Việt Nam cũng sẽ đề cập tới cả hai vấn đề quản lý và phát triển nguồn nhân lực [8]. Nhân lực y tế là một thành phần cơ bản và quan trọng trong 6 yếu tố đầu vào của hệ thống y tế. Nhân lực y tế đóng vai trò quyết định và quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân [2]. Có hai khái niệm thường được sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y tế đó là phát triển nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến cơ chế nhằm phát triển kỹ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổ chức công việc [3]. Còn khái niệm quản lý nguồn nhân lực, theo WPRO, là “một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý” [4]. Thực trạng nguồn nhân lực y tế Thế giới - Số lượng nhân viên y tế: theo định hướng của WHO về ưu tiên phát triển nguồn nhân lực y tế, các nước thành viên khu vực Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam) - đã xây dựng chiến lược nguồn nhân lực y tế cho nước mình và các nước trong khu vực.
Cả 2 bản chiến lược này đều có những điểm tương đồng về các vấn đề ưu tiên cần giải quyết (Bảng 2. Các ưu tiên được họp thành nhóm theo 3 vấn đề: (i) Nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu CSSK; (ii) phát triển, sử dụng và duy trì nguồn nhân lực; (iii) Quản lý và điều hành nguồn nhân lực. Trên cơ sở chiến lược khu vực mang tính định hướng, mỗi quốc gia cần xây dựng và đưa ra các chiến lược phù hợp với nước mình [36]. Nguồn nhân lực trên thế giới Tổng số Người cung cấp Người quản lý và nhân viên y tế DVYT nhân viên khác Khu vực theo % % Mật WHO tổng tổng Số lượng độ/1000 Số lượng Số lượng số số dân NVYT NVYT Châu Phi 1.000 25 Đông Đông Nam Á 7.000 33 Tây Thái Bình 10.000 23 Dương Châu Âu 16.000 33 Nguồn: theo Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2009 của Bộ Y tế.
Kết quả này cho thấy sự mất cân bằng trong phân bổ NVYT 29/ 40 Quốc gia của Châu Phi còn ít hơn 1, 2 nhân viên y tế/ 1. Mật độ thấp của NVYT tại Châu Phi phản ánh sự thiếu khả năng đào tạo và duy trì đã nguồn nhân lực y tế, nhiều cơ hội làm việc ở nước ngoài cũng như thiếu sự động viên, khích lệ đối với đội ngũ NVYT hiện có. Số lượng bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh thiếu hụt ước tính theo của WHO Số quốc gia Số thiếu hụt nhân viên y tế Vùng theo WHO Số thiếu Ước tính Tổng số Số hiện có Tỷ lệ % NVYT thiếu hụt Châu Phi 46 36 590.001 50 Châu Âu 52 0 - - - Trung Cận Đông 21 7 312.031 98 Thái Bình Dương 27 3 27.470 119 7 Theo ước tính của WHO có 57/192 thiếu loại NVYT. Cần phải có thêm 4,3 triệu NVYT, trong đó có 2, 4 triệu bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh để đáp ứng nhu cầu về y tế [36].
So sánh một số chỉ số nhân lực tại khu vực Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và một số quốc gia trong vùng Số điều Tỷ số Số dược Số bác dưỡng và điều sỹ từ sĩ / 1 hộ sinh từ dưỡng trung Vùng, tên quốc gia vạn trung cấp và hộ cấp trở dân trở lên / 1 sinh /1 lên / 1 vạn dân bác sĩ vạn dân Trung bình vùng Đông Nam Á 5,2 12,2 2,3 3,7 In-đô-nê-xia 1 8 8,0 0,5 Ấn Độ 6 13 2,2 5 Thái Lan 4 28 7,0 3 Tây Thái Bình Dương 13,9 20,3 1,45 4,5 Tây Thái Bình Dương (trừ các 13,1 12,9 1,0 3,1 quốc gia thu nhập cao) Căm-pu-chia 2 9 4,5 0,5 Lào 4 10 2,5 0 Việt Nam 6 9 1,4 3 Trung Quốc 14 10 0,7 3 Ma-lai-xi-a 7 18 2,6 1 Phi-lip-pin 12 61 5,1 6 Nguồn: WHOSIS [36]. Tỷ lệ điều dưỡng ở Việt Nam còn rất thấp so với các nước tại khu vực Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và một số quốc gia trong vùng. - Tỷ lệ bác sĩ và điều dưỡng của các nước 8 Bảng 1. Tỷ lệ Bác sĩ và điều dưỡng của các nước Tên nước Số BS Số ĐD Tỷ lệ Thái Lan 12.428 1/3,5 Nguồn Nursing in the World – Third edition, WHO [7].
- Phân bố tỷ lệ Điều dưỡng/người bệnh Bảng 1. Phân bố tỷ lệ Điều dưỡng/người bệnh Khoa phòng Tỷ lệ ĐD/ NB Khoa khám bệnh 2,5 - 3 ĐD / 100 NB Khoa cấp cứu 4 ĐD/10 NB Khoa nội – ngoại 2,5 - 3 ĐD / 24 NB Khoa HSCC 1 ĐD / 1 NB Khoa sản 3 ĐD / 4 NB Khoa phẫu thuật 4 ĐD Theo tiêu chuẩn của Thái Lan cho BV hạng 1 và hạng 2 [7]. Thực trạng nguồn nhân lực y tế Việt Nam Tổng số CBYT công tăng dần trong vòng 5 năm trở lại đây, từ 241. Số lượng CBYT tăng đều đặn ở tất cả các loại hình.
Ở tuyến trung ương, tỉnh, huyện và xã có tổng số 56 208 bác sĩ (bao gồm cả tiến sỹ và thạc sỹ), 49 213 y sỹ, 10 524 dược sỹ đại học, 12 533 dược sỹ trung cấp, 67.081 điều dưỡng, 22 943 hộ sinh, 882 lương y và 15 682 kỹ thuật viên y học [8]. - Dự báo nhu cầu nhân lực theo loại cán bộ tới năm 2020. Phân bố tỷ lệ điều dưỡng/người bệnh Loại nhân lực Năm 2011 Cần có năm 2020 Chỉ tiêu 2020 Số cần bổ (người) (*) (**) (***) sung Bác sĩ 44.851 Dược sỹ đại học 16.887 Kỹ thuật viên 24.892 ngành khác Nguồn: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế về Nhân lực y tế ở Việt Nam (2009)[8]. - Bất cập và thách thức: + Thiếu nhân lực y tế cho lĩnh vực KCB Số lượng nhân lực y tế cho lĩnh vực KCB còn thiếu so với định mức biên chế và nhu cầu thực tế.
Định mức biên chế CBYT trong lĩnh vực KCB được tính theo 2 phương án: làm việc theo giờ hành chính và làm việc theo ca (theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, ngày 05/06/2007). Định mức biên chế theo giường bệnh (số CBYT trên 1 giường bệnh) đối với phương án làm việc theo ca thường cao hơn so với phương án làm việc theo giờ hành chính và đối với các cơ sở KCB ở tuyến trên thì cao hơn tuyến dưới. Hiện nay ngành y tế đang áp dụng chế độ làm việc theo giờ hành chính. Nếu chuyển sang chế độ làm việc theo ca, thì số CBYT ở các bệnh viện công lập sẽ cần tăng thêm khá nhiều.
Cụ thể, trong khu vực KCB, hiện có 141.148 CBYT, nhu cầu cần có theo định mức biên chế là 188. Trong lĩnh vực điều trị ở cả 3 tuyến mới chỉ tính làm việc theo giờ hành chính đã cần bổ sung tới trên 47.000 CBYT, nếu làm việc theo ca thì con số đó là trên 80. + Thiếu điều dưỡng làm việc trong khu vực y tế nhà nước Tỷ số điều dưỡng và hộ sinh (gồm cả đại học, cao đẳng, trung cấp và sơ học) so với số bác sĩ là 1,6.