CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách và chính sách công Hiện nay, khái niệm chính sách đã có nhiều tác giả nghiên cứu phân tích ở nhiều góc độ khác nhau như: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” (James Anderson) hay “Chính sách là quyết tâm và định hướng. Chính sách định hướng nhưng không bao gồm các chương trình và chi tiết hành động” (Glen Milne)…[23].
Trong từ điển bách khoa của nước ta đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”[23] Theo PGS.TS Vũ Cao Đàm (Viện chính sách và quản lý) định nghĩa về thuật ngữ chính sách: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của học, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. [37] Các quan điểm trên có điểm chung cho rằng chính sách được là những chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ hoặc một chủ thể quản lý đưa ra nhằm thực hiện một một tiêu nào đó.
Như vậy chính sách được hiểu là những chủ trương, biện pháp của một chủ thể quản lý nào đó đưa ra nhằm thực hiện một mục tiêu đề ra. Trên thế giới và Việt Nam chính sách công được sử dụng rất đa dạng như: Nhà nghiên cứu chính sách công Thomas R. Dye cho rằng “chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm”[23] Luan van 9 William N. Dunm lại đưa ra khái niệm như sau “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra”[23] Theo Peter Aucoin “chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành”.Guy Peter hiểu “chính sách công là toán bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”[23] PGS.TS Đỗ Phú Hải cho rằng “Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan để lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp,công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền”.16] Chính sách công còn được hiểu là những quyết định mang tính chính trị rõ ràng nhằm định hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng trong xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Với các góc độ tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm khác nhau nhưng có thể hiểu chính sách công không phải là một quyết định đơn lẻ của một cá nhân nào đó mà là tập hợp các quyết định nhằm mục tiêu của quốc gia, địa phương hay các tổ chức, doanh nghiệp… Như vậy trên cơ sở kế thừa những khái niệm trên thì chính sách công có thể hiểu đó là những quyết định do chủ thể quản lý ban hành nhằm mục đích để giải quyết những vấn đề phát sinh ở mỗi giai đoạn từ đó nâng cao đời sống kinh tế - xã hôi và định hướng phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Theo Phạm Minh Hạc, Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh đều cho rằng nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất).
Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai. Luan van 10 Như vậy, nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ con người đó, làm cho họ có thể hoạt động gọi là sức lực và sức lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người, đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng, không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiền năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Về khái niệm nguồn lực ngành y tế trên thế giới và ở nước ta đã đưa ra những quan niệm khác nhau: Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” [38] Như vậy, nguồn nhân lực y tế ở không chỉ là những người trực tiếp khám, chữa bệnh cho con người như bác sĩ, y tá, hộ lý, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên mà còn những người gián tiếp phục vụ cho công việc khám chữa bệnh như những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc.
Nguồn lực y tế ở đây bao gồm những cán bộ y tế chính thức ở các bệnh viện, phòng khám và không chính thức như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y…kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp, xí nghiệp…. Nếu theo định nghĩa nguồn lực y tế của WHO thì ở Việt Nam nguồn lực y tế được hiểu là những cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập, tư nhân, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược. Trên cơ sở tổng hợp, kế thừa những khái niệm nêu trên, có thể hiểu nguồn lực y tế là tổng hòa tiềm năng lao động của con người có thể tham gia làm việc trong lĩnh vực y tế trực tiếp và gián tiếp để phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của người dân. Luan van 11 Phát triển nguồn nhân lực y tế được hiểu là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực về chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực y tế, được biểu hiện ở việc hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng, nhận thức của nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho công tác khám chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe cho người dân trong mỗi một giai đoạn cụ thể.
Khái niệm chính sách phát triển nhân lực y tế và thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế Do cách tiếp cận khác nhau do vậy cho đến nay khái niệm chính sách phát triển nhân lực nói chung và nhân lực ngành y tế nói riêng được hiểu khác nhau như: Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, chính sách phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tác giả Vũ Đăng Minh và Lê Thị Lam Hương hiểu chính sách phát triển nguồn nhân lực là: “Nhà nước thể chế hoá các đường lối chủ trương, nhiệm vụ của Đảng vào các văn bản pháp quy nhằm chăm lo, giáo dục công dân trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc” [36, tr.52] Dưới góc độ quản lí hành chính công, chính sách phát triển nguồn nhân lực là những hành động ứng xử của Nhà nước thông qua các hình thức khác nhau trong việc chăm lo, giáo dục công dân trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp phát triển, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế. Như vậy,chính sách phát triển nguồn nhân lực những hành động ứng xử của một chủ thể quản lý nào đó nhằm tạo sự biến đổi về số lượng và chất lượng nhân lực trên mọi phương diện như thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nhân lực. Trên cơ sở khái niệm chính sách phát triển nguồn nhân lực thì khái niệm chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế được hiểu là hành động thông qua quan điểm, quyết sách, quyết định của một chủ thể quản lý về phát triển nhân lực ngành y tế với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm xây dựng nhân lực ngành y tế có cơ cấu, số lượng, chất Luan van 12 lượng hợp lý, có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác khám, chữa và bảo vệ sức khỏe của người dân.
Có thể thấy, cơ quan ban hành chính sách nguồn nhân lực y tế có thể là Nhà nước, bộ y tế và HĐND các cấp. Chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế được thể hiện bằng các hình thức khác nhau: Hệ thống các văn bản pháp luật và pháp quy: Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư., Các quyết sách, hành động của chủ thể quan lý nhằm nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghề nghiệp, tay nghề, kỷ luật lao động, kỹ năng lao động cho người lao động trong lĩnh vực y tế và mục tiêu của chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế: Đào tạo đội ngũ người lao động chất lượng cao đáp ứng sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.