Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về nhiễm khuẩn Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì nhiễm khuẩn bệnh viện được định nghĩa như sau: “Nhiễm khuẩn bệnh viện là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện” [7]. Liên quan giữa thời gian nhập viện và nhiễm khuẩn bệnh viện [8] Nguồn: Bộ Y tế (2018), Thông tư 16/2018/TT-BYT về hướng quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh [8] Cho đến nay đã có gần 50 định nghĩa về các vị trí NKBV như nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn hô hấp…được xây dựng và được áp dụng rộng rãi cho các cuộc điều tra NKBV trên toàn thế giới.
Hầu hết các tiêu chuẩn xác định nhiễm khuẩn bệnh viện đều do trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật ban hành dựa trên các tiêu chuẩn về lâm sàng và xét nghiệm [9]. Hiện nay nhiễm khuẩn bệnh viện là một vấn đề nghiêm trọng tác động đến sức khỏe toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế thế giới, ở các nước phát triển tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện từ 5 - 10%, ở các nước đang phát triển tỷ lệ này cao hơn, có nơi đến 25%. Thống kê của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ thì tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện từ 5 - 15%, chi phí cho nhiễm khuẩn bệnh viện đến 4,5 tỷ đô la Mỹ, tử vong tăng 2 - 3 2,5%, thời gian nằm viện tăng 4-7 ngày, 50% trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện có đề kháng với thuốc kháng sinh.
Việc tuân thủ các quy định về phòng ngừa chuẩn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giảm thiểu nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế, góp phần hạn chế nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp và tạo ra một môi trường chăm sóc an toàn cho cả người bệnh và nhân viên y tế. Trong một phân tích tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã xem xét 144 nghiên cứu được công bố trên toàn thế giới từ năm 2005 đến năm 2016 nhằm xác định số lượng nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) có thể ngăn ngừa được thông qua các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tại nhiều cơ sở y tế khác nhau (bao gồm khu vực thành thị, nông thôn, và các quốc gia có mức thu nhập khác nhau). Kết quả cho thấy, các can thiệp được thiết kế để "ngăn ngừa ít nhất một trong năm loại NKBV phổ biến nhất" đã giúp giảm từ 35% đến 55% số ca nhiễm mới [7, 44]. Tại mắt, nhiễm khuẩn bệnh viện có nhiều mức độ, có thể chỉ là viêm kết mạc cấp khi người bệnh đi khám bệnh lây nhiễm thêm ở bệnh viện gây kích thích mắt nhưng có thể là viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật nội nhãn, là bệnh cấp tính nghiêm trọng có thể gây mù lòa, thậm chí phải bỏ nhãn cầu.
Từ năm 2016 đến năm 2020 tại Bệnh viện Mắt Trung Ương đã có đến 170 ca viêm mủ nội nhãn sau phẫu thuật chiếm tỉ lệ 0,0006% [11]. Đường lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện Có 3 đường lây truyền chính trong cơ sở y tế: - Lây qua đường tiếp xúc: bao gồm tiếp xúc trực tiếp (với các tác nhân gây bệnh) và tiếp xúc gián tiếp (với vật trung gian chứa tác nhân gây bệnh). Đây là đường lây nhiễm quan trọng và phổ biến nhất trong NKBV. - Lây nhiễm qua đường giọt bắn: các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có trong các giọt bắn có thể truyền bệnh từ người sang người.
Một số tác nhân gây bệnh qua đường giọt bắn cũng có thể truyền qua đường tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gián tiếp. - Lây qua đường không khí: các giọt bắn rất nhỏ phát sinh ra khi người bệnh ho hay hắt hơi, sau đó phát tán vào trong không khí. Phòng ngừa chuẩn trong cơ sở khám chữa bệnh 1. Khái niệm phòng ngừa chuẩn Phòng ngừa chuẩn (PNC) là các biện pháp phòng ngừa cơ bản áp dụng cho mọi người bệnh không phụ thuộc vào chẩn đoán, tình trạng nhiễm trùng và thời điểm khám, điều trị, chăm sóc dựa trên nguyên tắc coi máu, chất tiết và chất bài tiết của người bệnh đều có nguy cơ lây truyền bệnh [6, 8].
Nguyên tắc Phòng ngừa chuẩn Phòng ngừa chuẩn (Standard Precautions) là bộ quy tắc gồm các biện pháp phòng ngừa nhằm bảo vệ nhân viên y tế và người bệnh khỏi nguy cơ phơi nhiễm với các mầm bệnh lây truyền qua đường máu và các dịch tiết của cơ thể, đồng thời ngăn ngừa sự lây lan của nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) trong môi trường y tế [2]. Nguyên tắc của PNC là coi tất cả máu, dịch sinh học, các chất− tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm [2]. Phòng ngừa chuẩn là các thực hành cơ bản được áp dụng mọi lúc, mọi nơi trong mọi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Tuân thủ PNC là chiến lược quan trọng nhất để làm giảm nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế cho người bệnh, làm giảm phơi nhiễm nghề nghiệp cho nhân viên y tế.
Áp dụng PNC trong quá trình chăm sóc cho mỗi người bệnh dựa vào bản chất của sự tác động qua lại giữa cán bộ y tế với người bệnh, khả năng phơi nhiễm với máu, dịch sinh học và các chất tiết của cơ thể để lựa chọn các phương tiện phòng hộ cá nhân và các thực hành thích hợp [6, 8]. Những nội dung chính của phòng ngừa chuẩn: - Vệ sinh hô hấp và vệ sinh khi ho. - Vệ sinh tay. - Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân.
- Tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn - Sắp xếp người bệnh - Xử lý dụng cụ - Xử lý đồ vải - Xử lý chất thải - Vệ sinh môi trường. Vệ sinh hô hấp và vệ sinh khi ho Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có kế hoạch quản lý tất cả các người bệnh có các triệu chứng về đường hô hấp trong giai đoạn có dịch. Tại khu vực tiếp nhận bệnh cần có hệ thống cảnh báo và hướng dẫn để phân luồng người bệnh có các triệu chứng về đường hô hấp. Tại khu điều trị nội trú có buồng riêng cho người bệnh có dấu hiệu về bệnh lý đường hô hấp.
Vệ sinh tay - Vệ sinh tay: khái niệm đưa ra chỉ các phương pháp làm sạch tay, bao gồm rửa tay bằng nước với xà phòng hoặc rửa tay với dung dịch chứa cồn. - Vệ sinh tay thích hợp ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng mắc phải có thể tránh được trong quá trình chăm sóc sức khỏe. Việc hiểu và thực hành đúng vệ sinh tay là một trong những biện pháp cực kỳ quan trọng nhằm phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân, gia đình và cộng đồng xung quanh. Vệ sinh tay trước và sau tiếp xúc với mỗi người bệnh là biện pháp quan trọng nhất trong phòng ngừa NKBV.
Trang bị phương tiện vệ sinh tay: bao gồm phương tiện vệ sinh tay thường quy và phương tiện vệ sinh tay ngoại khoa + Phương tiện vệ sinh tay thường quy phải luôn có sẵn ở mọi buồng thủ thuật, mọi khu vực chăm sóc người bệnh, khu hành chính, khu tiếp đón người bệnh và các buồng vệ sinh. Tại các khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao, các giường người bệnh nặng, xe tiêm, buồng thủ thuật, phẫu thuật cần trang bị dung dịch vệ sinh tay chứa cồn. Các buồng thủ thuật, buồng hành chính, buồng người bệnh nặng, khu đón tiếp người bệnh và khu vệ sinh phải có bồn rửa tay. Tại mỗi bồn rửa tay thường quy, ngoài xà phòng thường rửa tay cần trang bị đồng bộ các phương tiện khác gồm quy trình rửa tay, khăn lau tay sử dụng 1 lần và thùng thu gom khăn đã sử dụng.
+ Phương tiện vệ sinh tay ngoại khoa: bằng xà phòng khử khuẩn, dung dịch xà phòng chứa chlorhexidine 4%; Ngoài ra cần trang bị đồng bộ các phương tiện khác đạt chuẩn như bồn rửa tay, nước rửa tay và bàn chải tiệt khuẩn. 6 ● Quy trình vệ sinh tay bằng nước và xà phòng [3]: Bước 1: Lấy 3 - 5ml dung dịch rửa tay hoặc chà bánh xà phòng lên lòng và mu hai bàn tay. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho dung dịch và xà phòng dàn đều. Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ các ngón của bàn tay kia và ngược lại.
Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay. Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia. Bước 5: Dùng lòng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại. Bước 6: Xoay đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại.
Quy trình vệ sinh tay thường quy ● Quy trình rửa tay bằng cồn Bước 1: Lấy 3 - 5ml dung dịch cồn lên lòng và mu hai bàn tay. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho dung dịch dàn đều. Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ các ngón của bàn tay kia và ngược lại. Bước 3: Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay.
Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia. Bước 5: Dùng lòng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại. 7 Bước 6: Xoay đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế và Tổ chức y tế thế giới, có 5 thời điểm cần thiết phải vệ sinh tay bao gồm [3]: + Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh + Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn + Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể + Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh + Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh.
Ngoài ra, các thời điểm chăm sóc sau cũng cần vệ sinh tay: Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh; Trước khi mang găng và sau khi tháo găng; Trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh; nhiễm khuẩn bệnh viện trong buồng phẫu thuật không trực tiếp động chạm vào người bệnh phải vệ sinh tay trước khi vào buồng phẫu thuật. Trong buồng phẫu thuật, bất kỳ khi nào bàn tay chạm vào bề mặt thiết bị phương tiện phải vệ sinh tay ngay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn. Nhiễm khuẩn bệnh viện khi làm việc trong buồng xét nghiệm cần tuân thủ nghiêm thời điểm 3 và thời điểm 5 về vệ sinh tay để phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân.