Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm điều dưỡng ĐD viên (nam và nữ) là người phụ trách, đảm nhận các công việc ĐD, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, chăm sóc sức khỏe, kê toa thuốc và các công việc khác trong hệ thống y tế để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến quá trình trị liệu, phục hồi cho bệnh nhân. Theo một định nghĩa khác thì ĐDV là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, tổ chức thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản và kỹ thuật ĐD chuyên khoa tại các cơ sở y tế (12).
Lực lượng ĐD viên giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu với mục tiêu chẩn đoán, điều trị, chăm sóc các nhu cầu thiết yếu của người dân trong việc nâng cao sức khỏe, duy trì, phục hồi và dự phòng bệnh tật ở ba tuyến: tuyến đầu, tuyến sau, và tuyến cuối kết hợp với các chuyên ngành khác trong chăm sóc sức khỏe 1. Khái niệm khối lượng công việc Là số lượng công việc mà một người được dự kiến sẽ làm trong một khoảng thời gian quy định. Khối lượng công việc của nhân viên y tế là toàn bộ cấu phần khối lượng công việc của dịch vụ y tế mà nhân viên y tế có thể thực hiện được trong một năm hoặc một thời gian nhất định nào đó. Theo O’Brien –Pallas và Giovannetti (1993) đã miêu tả KLCV của ĐD là lượng công việc hàng ngày bao gồm công việc ( trực tiếp, gián tiếp) và qua lượng công việc đó yêu cầu nguồn nhân lực cần thiết để chăm sóc cho mỗi NB (13).
Theo Lee Ridoutt và công sự, đo lường KLCV là cách nắm bắt và ghi lại thời gian hoặc các hoạt động của nhân viên trong việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ. Theo ông đo lường KLCV là đo lường một mối quan hệ đơn giản giữa khối lượng công việc cần thực hiện với khoảng thời gian được quy định(14). Theo O’Brien – Pallas cách tính biên chế ĐD là một trong những phương pháp đo lường KLCV. Theo ông đo lường KLCV căn cứ vào tiêu chuẩn và thời gian 5 trung bình cho mỗi nhiệm vụ, tiêu chuẩn NB - loại chăm sóc, tiêu chuẩn nhóm NB – chẩn đoán bệnh, cường độ ĐD (13).
Hệ thống tổ chức ĐD 1. Nhiệm vụ của ĐD thể hiện như sau: Nhiệm vụ của ĐD được quy định trong tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của ĐD. Nhưng thực tế, tại hầu hết bệnh viện nước ta ĐD chưa được phát huy hết vai trò của mình, chủ yếu làm theo công việc hằng ngày và thực hiện y lệnh của BS. Do chưa có quy định phân cấp cụ thể phạm vi hành nghề nên dù có trình độ khác nhau nhưng ĐD vẫn thực hiện nhiệm vụ gần như như nhau (15).
Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế “Hướng dẫn công tác thực ĐD về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” tại chương II đã quy định về nhiệm vụ của ĐD viên gồm 12 nhiệm vụ chính như sau (16): Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe; Chăm sóc về tinh thần; Chăm sóc vệ sinh cá nhân; Chăm sóc dinh dưỡng; Chăm sóc phục hồi chức năng; Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh; Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong; Thực hiện các kỹ thuật ĐD; Theo dõi, đánh giá người bệnh; Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh; và Ghi chép hồ sơ bệnh án. Phân loại ĐD BYT và Bộ Nội Vụ đã phân loại hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của ĐD theo trình độ chuyên môn bao gồm: ĐD cao đẳng, đại học, thạc sĩ ĐD. Trong từng nhiệm vụ cụ thể, Bộ Y Tế cũng căn cứ vào trình độ phân loại nhiệm vụ theo mức độ cao, thấp khi thực hiện kỹ thuật chuyên môn có thể tham gia trực tiếp hoặc trợ giúp trong chăm sóc. ĐD cao đẳng là người trực tiếp tham gia thực hiện các kỹ thuật chuyên môn và phụ giúp ĐD ở ngạch cao hơn thực hiện các kỹ thuật ĐD phức tạp theo y lệnh của BS điều trị và sự phân công của ĐD phụ trách.
Tiếp tục phát triển thêm mức cao hơn nữa. ĐD đại học ngoài thực hiện các kỹ thuật ĐD còn phải sử dụng kiến thức bệnh học để thực hiện nhiệm vụ lập Kế hoạch chăm sóc và tham gia trực tiếp trong thực hiện kế hoạch chăm sóc đó. ĐD đại học có nhiệm vụ tổ chức lập kế hoạch chăm sóc và phối hợp với BS trong việc tổ chức 6 thực hiện kế hoạch chăm sóc người bệnh toàn diện theo đúng các quy chế chuyên môn. Ngoài ra ĐD cao đẳng và đại học còn phải thực hiện một số kỹ thuật ĐD phức tạp của chuyên khoa theo y lệnh của BS điều trị (17).
Nhiệm vụ điều dưỡng hành chính Dưới sự chỉ đạo của trưởng khoa và ĐD trưởng, ĐD hành chính có nhiệm vụ sau: Thực hiện công việc thống kê theo quy định, cập nhật NB nhập viện, chuyển khoa, chuyển viện, ra viện và tử vong. Báo cáo tình hình người bệnh theo quy định. Chuyển hồ sơ bệnh án đã được trưởng khoa duyệt đến phòng KHTH. Bảo quản bệnh án, sổ, ấn chỉ và tài liệu trong khoa.
Quản lý thuốc dùng hàng ngày cho người bệnh trong khoa. Nhập thuốc dùng hàng ngày theo y lệnh vào phần mềm in phiếu lĩnh thuốc trình trưởng khoa duyệt. Lĩnh thuốc và bàn giao thuốc hàng ngày để ĐD chăm sóc thực hiện cho từng người bệnh theo y lệnh. Kiểm tra sử dụng thuốc trực hàng ngày và bổ sung thuốc trực theo cơ số quy định.
Thu hồi thuốc thừa để trả lại khoa dược theo quy chế sử dụng thuốc. Tổng hợp thuốc đã dùng cho mỗi người bệnh trước lúc ra viện. Lĩnh dụng cụ y tế, văn phòng phẩm. Lập sổ theo dõi và cấp phát để sử dụng theo kế hoạch của ĐD trưởng và trưởng khoa.
Tham gia thường trực và chăm sóc người bệnh khi cần. Thay ĐD trưởng khoa khi được ủy quyền. Nhiệm vụ chuyên môn Điều Dưỡng chăm sóc - Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe Bệnh viện có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp. Người bệnh nằm viện được ĐD viên tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, phòng bệnh trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện.
- Chăm sóc về tinh thần 7 Người bệnh được ĐD viên chăm sóc, giao tiếp với thái độ ân cần và thông cảm. Người bệnh, người nhà người bệnh được động viên yên tâm điều trị và phối hợp với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc. Người bệnh, người nhà người bệnh được giải đáp kịp thời những băn khoăn, thắc mắc trong quá trình điều trị và chăm sóc. Bảo đảm an ninh, an toàn và yên tĩnh, tránh ảnh hưởng đến tâm lý và tinh thần của người bệnh.
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh hằng ngày gồm vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể, hỗ trợ đại tiện, tiểu tiện và thay đổi đồ vải. Trách nhiệm chăm sóc vệ sinh cá nhân: Người bệnh cần chăm sóc cấp I do ĐD viên, hộ sinh viên và hộ lý thực hiện; Người bệnh cần chăm sóc cấp II và cấp III tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của ĐD viên, hộ sinh viên và được hỗ trợ chăm sóc khi cần thiết. - Chăm sóc dinh dưỡng ĐD viên phối hợp với BS điều trị để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh. Hằng ngày, người bệnh được BS điều trị chỉ định chế độ nuôi dưỡng bằng chế độ ăn phù hợp với bệnh lý.
Người bệnh có chế độ ăn bệnh lý được cung cấp suất ăn bệnh lý tại khoa điều trị và được theo dõi ghi kết quả thực hiện chế độ ăn bệnh lý vào Phiếu chăm sóc. Người bệnh được hỗ trợ ăn uống khi cần thiết. Đối với người bệnh có chỉ định ăn qua ống thông phải do ĐD viên trực tiếp thực hiện. - Chăm sóc phục hồi chức năng Người bệnh được ĐD viên hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức năng sớm để đề phòng các biến chứng và phục hồi các chức năng của cơ thể.
Phối hợp khoa lâm sàng và khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng để đánh giá, tư vấn, hướng dẫn và thực hiện luyện tập, phục hồi chức năng cho người bệnh. - Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật 8 Người bệnh được ĐD viên hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện chuẩn bị trước phẫu thuật, thủ thuật theo yêu cầu của chuyên khoa và của BS điều trị. Trước khi đưa người bệnh đi phẫu thuật, thủ thuật, ĐD viên phải: Hoàn thiện thủ tục hành chính; Kiểm tra lại công tác chuẩn bị người bệnh đã được thực hiện theo yêu cầu của phẫu thuật, thủ thuật; Đánh giá dấu hiệu sinh tồn, tình trạng người bệnh và báo cáo lại cho BS điều trị nếu người bệnh có diễn biến bất thường. ĐD viên chuyển người bệnh đến nơi làm phẫu thuật, thủ thuật và bàn giao người bệnh, hồ sơ bệnh án cho người được phân công chịu trách nhiệm tiếp nhận của đơn vị thực hiện phẫu thuật hoặc thủ thuật.
- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh Khi dùng thuốc cho người bệnh, ĐD viên phải: Chuẩn bị đủ và phù hợp các phương tiện cho người bệnh dùng thuốc; khi dùng thuốc qua đường tiêm phải chuẩn bị sẵn sàng hộp thuốc cấp cứu và phác đồ chống sốc, chuẩn bị đúng và đủ dung môi theo quy định của nhà sản xuất. Thực hiện 5 đúng khi dùng thuốc cho người bệnh: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng đường dùng, đúng thời gian dùng thuốc. Bảo đảm người bệnh uống thuốc ngay tại giường bệnh trước sự chứng kiến của ĐD viên. Theo dõi, phát hiện các tác dụng không mong muốn của thuốc, tai biến sau dùng thuốc và báo cáo kịp thời cho BS điều trị.
Ghi hoặc đánh dấu thuốc đã dùng cho người bệnh và thực hiện các hình thức công khai thuốc phù hợp theo quy định của bệnh viện. Phối hợp giữa các BS, dược sĩ, ĐD viên trong dùng thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị bằng thuốc và hạn chế sai sót trong chỉ định và sử dụng thuốc cho người bệnh. - Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong Người bệnh ở giai đoạn hấp hối được bố trí buồng bệnh thích hợp, thuận tiện cho việc chăm sóc, điều trị tránh ảnh hưởng đến người bệnh khác.