Mở đầu Nêu lên được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài mang lại trong chương trình chống lao quốc gia. Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu Chương này giới thiệu sơ lược về bệnh lao, các chỉ số dịch tể học, tình hình bệnh lao ở thế giới, ở Việt Nam và ở tại tỉnh Đồng Nai Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Khái quát được phương pháp nghiên cứu, cách thức xử lý số liệu và khống chế sai số trong quá trình thực hiện luận văn. Chƣơng 3: Kết quả và bàn luận Trình bày được các bảng số liệu sau khi đã thu thập, xử lý và tiến hành đọc kết quả. Dựa trên kết quả tiến hành bàn luận dựa trên những con số thu thập được của nghiên cứu, đồng thời liên hệ với các nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước để thấy được điểm tương đồng và khác biệt, kết hợp với tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai để nêu lên được giá trị của nghiên cứu thực hiện.
Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị Ở chương này, tôi tiến hành tổng kết các kết quả chính đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu, đồng thời đề ra những kiến nghị nhằm cải thiện tình hình chậm trễ trong khám phát hiện bệnh lao tại tỉnh Đồng Nai, bổ trợ cho chương trình chống lao quốc gia. 5 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về bệnh Lao 1. Lịch sử nghiên cứu bệnh Lao Bệnh Lao là một bệnh có từ rất lâu đời với những bằng chứng Lao xương trong các xác ướp Ai Cập cổ đại cách đây trên 4000 năm.
(Chuyên đề bệnh lao. Nhà xuất bản Y học) Thời kỳ Hypocrate, từ thế kỷ thứ V trước công nguyên (600 – 372 TrCN) người ta đã đề cập đến bệnh Lao. Tuy nhiên, hiểu biết về bệnh lúc đó còn chưa rõ ràng, chưa khẳng định được là bệnh lây truyền hay bệnh di truyền. Lúc bấy giờ bệnh Lao được gọi với nhiều tên gọi khác nhau vì chưa hiểu rõ bản chất của bệnh và được coi là “kẻ giết người”, tử thần, … vì mắc bệnh coi như là chết (cứ 7 người chết trong đó có 1 người chết do Lao).
Năm 1839 Johann Lukas Schönlein đã gọi Lao là “tuberculosis” - là tên gọi theo tiếng anh được dùng tới hiện nay. Năm 1882 (ngày 24/3) Robert Koch (người Đức) bằng một phương pháp nhuộm đặc biệt (nhuộm Ziehl Neelsen) đã tìm được một loại trực khuẩn và gọi là trực khuẩn Lao, viết tắt là BK (Bacillus de Koch), thuộc nhóm trực khuẩn kháng cồn kháng toan, là nguyên nhân gây bệnh Lao. Năm 1895, Wilhelm Konrad von Rontgen đã chứng minh rằng tổn thương Lao tiến triển có thể phát hiện được bằng chụp X-Quang. Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 là thời kì "hoàng kim" về những tiến bộ trong nghiên cứu nhằm chinh phục bệnh Lao.
Chất chiết xuất từ môi trường nuôi cấy vi khuẩn Lao (Tuberculin) được R. Kock đặt tên từ năm 1890, đến năm 1907 test trong da với tuberculin được Clemens von Pirquet phát triển và lấy tên gọi của bác sỹ Mantoux để đặt tên cho kỹ thuật này. Phản ứng Mantoux được áp dụng để chẩn đoán Lao tiềm tàng không có triệu chứng bắt đầu từ năm 1910. Năm 1907 Calmette & Guerin đã tạo ra được một chủng vi khuẩn Lao giảm độc lực, gọi là BCG (Bacilli de Calmette- Guerin).
BCG được áp dụng để gây miễn dịch cho người lần đầu tiên vào năm 1921 tại Pháp, mục đích là đề phòng bệnh Lao. 6 Tuy nhiên, điều trị bệnh Lao thì cả là một cuộc thập tự chinh. Cả một thời gian dài, các nhà bác học tìm tòi phương pháp điều trị như tiêm Tuberculin cho bệnh nhân (R. Kock), gây xẹp phổi bằng tràn khí màng phổi chủ động cũng không mang lại kết quả.
Năm 1943: Selman Waksman phát minh Streptomycin (giải thưởng Nobel năm 1952). Sau đó lần lượt các thuốc khác ra đời: 1949- PAS; 1952 - Isoniazid; 1954 - Pyrazinamide; 1955 - Cycloserine; 1962 - Ethambutol và 1963 - Rifampicin. Giáo sư John Crofton là người đi đầu trên thế giới xây dựng nền tảng nghiên cứu lâm sàng bệnh Lao và hóa trị liệu bệnh Lao. Ông đã kết luận “sự phối hợp SM, PAS và INH có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh Lao”.
Về nghiên cứu dịch tễ và mô hình quản lý bệnh Lao hiệu quả phải kể đến sự đóng góp của Giáo sư Karel Styblo, người đã sang thăm Việt Nam và hướng dẫn triển khai thí điểm chiến lược điều trị có kiểm soát (Directly Observed Treatment DOT) từ những năm cuối thập kỷ 80. Người được coi như cha đẻ của chiến lược DOTS được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo áp dụng trên toàn cầu từ đầu thập kỷ 90. Chiến lược DOTS đang được áp dụng một cách hiệu quả cho đến ngày nay. Ở Việt Nam từ năm 1957 nhà nước đã có quyết định thành lập Viện chống Lao Trung ương (nay là Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương).
Từ năm 1957 đến 1975 công tác chống Lao ở miền Bắc đã đạt được một số thành tựu về mặt dịch tễ, chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Từ năm 1976 - 1985 đã có chương trình chống Lao 10 điểm cho cả nước, chương trình này đã được Bộ Y tế thông qua năm 1978, bước đầu đã có một số kết quả. Từ cuối năm 1985 để nâng cao hiệu quả của hoạt động chống Lao, chương trình chống Lao cấp II đã được đề ra và hiện đang được tiến hành có kết quả. Dịch tễ học bệnh Lao Theo Ban biên soạn ”Quản lý bệnh lao”, (2008).
Tài liệu tập huấn quản lý chương trình chống lao quốc gia: 1. Nguyên nhân gây bệnh lao Do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra bệnh lao, lây nhiễm qua đường hô hấp từ người này sang người kia. 7 Do thường xuyên hoạt động ở nơi bị ô nhiễm, nhiều khí uế, nơi ẩm ướt tối tăm, bụi bẩn điều kiện để vi khuẩn lao phát triển gây bệnh. Do việc tiếp xúc trực tiếp với người mắc bệnh, tiếp xúc với chất thải có chứa vi khuẩn lao như đờm, dãi, nước bọt khi ho, hắt hơi … Ngoài ra có thể do ăn phải thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn lao, tiếp xúc với thú nuôi nhiễm lao, khi chăm sóc thú bị chúng cào xước….thì cũng dễ mắc lao da, lao ống tiêu hóa, lao dạ dày,… 1.
Nhiễm lao và bệnh lao * Các yếu tố thuận lợi dễ mắc lao: Nguồn lây: Những người tiếp xúc với nguồn lây nhất là tiếp xúc với nguồn lây chính dễ có nguy cơ mắc bệnh. Trẻ em càng nhỏ tiếp xúc với nguồn lây càng dễ bị bệnh hơn. Trẻ em chưa được tiêm phòng lao bằng vaccin BCG: tiêm vaccin BCG giúp cho trẻ em tránh được các thể lao nặng như lao kê, lao màng não. Các yếu tố xã hội cũng có ảnh hưởng tới bệnh lao: Bệnh lao bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội như mức sống, thiên tai, chiến tranh.Các nước nghèo, mức sống thấp bệnh lao thường trầm trọng.
Bệnh lao cũng tăng lên rõ rệt qua 2 cuộc chiến tranh ở các nước thắng trận và bại trận. Một số bệnh tạo điều kiện dễ mắc lao: Trẻ em: Suy dinh dưỡng, còi xương, giảm sức đề kháng của cơ thể (sau mắc bệnh do vi rút) là điều kiện thuận lợi dễ mắc bệnh lao. Người lớn mắc các bệnh mạn tính như: Đái tháo đường, bệnh bụi phổi, loét dạ dày - tá tràng, nghiện ma túy, rượu. Đại dịch HIV/AIDS: là một trong những nguyên nhân làm bệnh lao quay trở lại.
Một người nhiễm lao không nhiễm HIV thì khả năng bị bệnh lao chỉ là 10% trong cả cuộc đời, nhưng nếu nhiễm lao kèm HIV thì khả năng bị bệnh lao gấp 30 - 40 lần. Phụ nữ ở thời kỳ thai nghén: Bệnh lao thường nặng lên ở thời gian 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén và sau khi đẻ. Ngày nay cơ chế được giải thích là do thay đổi nội tiết trong thời kỳ thai nghén của người phụ nữ. Nội tiết tố gonadotropin tạo điều kiện cho vi 8 khuẩn lao lan tràn, còn estrogen ức chế sự lan tràn của vi khuẩn lao.
Trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén và sau sinh, nồng độ estrogen giảm hơn gonadotropin trong máu người mẹ. Yếu tố cơ địa: Sự khác nhau về khả năng mắc bệnh lao giữa các dân tộc đã được y học nhận xét từ lâu trong đó có sự khác nhau giữa người bệnh và người về các kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA (Human Leucocyte Antigen) * Nhiễm trùng lao và sự bảo vệ của cơ thể: Ban đầu vi khuẩn lao bị khống chế bởi hệ thống đề kháng của cơ thể. Sau một thời gian (nhiều tháng hoặc nhiều năm), sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm do suy dinh dưỡng hoặc một bệnh khác. Lây truyền bệnh lao Lây truyền bệnh lao theo đường hô hấp là chủ yếu, khi người lao phổi có BK (+) ho khạc đờm.
Các hạt khí dung chứa vi khuẩn lao văng ra ngoài, lơ lửng trong không khí, người hít phải những hạt có chứa vi khuẩn lao có khả năng bị nhiễm lao. Một người mắc lao có thể lây nhiễm cho 10 - 15 người có nguy cơ bị bệnh lao. Tất cả các cơ quan trong cơ thể đều có thể bị mắc lao và là nguồn lây, nhưng mức độ rất khác nhau. Đối với các thể lao ngoài phổi (lao hạch, lao xương khớp, lao màng não.) rất ít lây cho người khác vì vi khuẩn lao ít có khả năng nhiễm vào môi trường bên ngoài.
Lao phổi là thể lao dễ đưa vi khuẩn ra môi trường bên ngoài, vì vậy lao phổi là thể lây quan trọng nhất. Những bệnh nhân lao phổi tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm bằng phương pháp nhuộm soi trực tiếp khả năng gây bệnh cho người khác gấp từ hai đến hai mươi lần so với các bệnh nhân phải nuôi cấy mới tìm được vi khuẩn lao hoặc không tìm thấy vi khuẩn trong đờm. Vì thế bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn lao trong đờm được phát hiện bằng phương pháp nhuộm soi trực tiếp là nguồn lây nguy hiểm nhất (còn gọi là nguồn lây chính). CTCLQG đang tập trung phát hiện và điều trị cho những bệnh nhân này.
Tử vong do lao Bệnh lao đứng thứ 5 gây tử vong sau các bệnh tim mạch, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, ung thư, tiêu chảy,. Bệnh lao có tỷ lệ tử vong đứng hàng thứ 2 trong các bệnh nhiễm trùng. Theo báo cáo của Bệnh viện lao và bệnh phổi Trung ương, tử vong do lao khoảng 3%. Các chỉ số dịch tể học Theo Chuyên đề bệnh lao.