ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức Y tế thế giới đã định nghĩa sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội. Người dân trong cộng đồng có sức khoẻ tốt sẽ hăng say lao động, góp phần vào sự phát triển của gia đình và đất nước. Nghị quyết số 46-NQ/TW đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khoẻ “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước”(1). Mô hình bệnh tật hiện nay ở nước ta đã và đang chuyển dần từ bệnh lây nhiễm sang những bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, nhất là các bệnh ung thư với nhiều yếu tố nguy cơ trong trong lối sống, sinh hoạt và công việc.
Hậu quả là, sức của cộng đồng bị suy giảm, ảnh hưởng tới sản xuất, góp phần tiêu cực đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia (2). Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam được ban hành từ năm 2013 với phiên bản 1 và được chỉnh sửa lại thành phiên bản 2 vào năm 2016, cùng với thông tư 19/2013/TT-BYT Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện (3), (4). Trong đó chất lượng được khái niệm là: “Người bệnh có khả năng tiếp cận dịch vụ, một cách an toàn, kịp thời. Một khái niệm phổ biến nhất chất lượng là “sự hài lòng của khách hàng”.
Chất lượng được chia làm hai loại: chất lượng chuyên môn (kỹ thuật) và chất lượng dịch vụ. Khách hàng không đánh giá được chất lượng chuyên môn do họ không hiểu về các qui trình chuyên môn. Tuy nhiên, họ hoàn toàn có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ như thời gian chờ đợi, sự tương tác và giao tiếp của nhân viên y tế với họ…(5). Bệnh viện Quân y 175 là bệnh viện tuyến cuối phía Nam Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh chức năng là Trung tâm nghiên cứu Y học quân sự, cơ sở đào tạo sau đại học của Bộ Quốc phòng, Bệnh viện Quân y 175 còn được giao nhiệm vụ là bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sâu tuyến cuối của toàn quân, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tổ chức khám, thu dung, điều trị bệnh nhân là quân nhân thuộc khu vực phía Nam; Tham gia khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, dịch vụ y tế cho nhân dân. Với quy mô 1.000 giường kế hoạch, số giường bệnh thực kê là 1. Bệnh viện đã đưa vào hoạt động: Viện Chấn thương chỉnh hình (500 giường) đang giai đoạn hoàn thiện và Bệnh viện đa khoa 175 (1. Hiện nay mỗi ngày, bệnh viện điều trị từ 2.400 bệnh nhân ngoại trú và khoảng 1.300 bệnh 2 nhân nội trú; thực hiện cấp cứu khẩn cấp khoảng 130-140 ca.000 thẻ bảo hiểm y tế đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại Bệnh viện Quân y 175.
Là một bệnh viện đa khoa với biên chế 14 khoa Nội, 11 khoa Ngoại, 10 khoa Cận lâm sàng, 2 Trung tâm, 1 Viện với 1.527 cán bộ nhân viên chuyên môn. Trung tâm chẩn đoán và điều trị Ung Bướu gồm 02 khoa là khoa Điều trị Ung bướu và khoa Y học hạt nhân. Số bệnh nhân nội trú trung bình hàng ngày 250 – 300 bệnh nhân. Xạ trị hàng ngày khoảng 100 – 130 lượt bệnh nhân.
Hóa trị 20-50 lượt bệnh nhân/ngày. Với đặc thù điều trị cho bệnh nhân ung bướu có nhiều điểm như thời gian điều trị dài hơn các bệnh nhân ở khoa khác, kinh phí điều trị lớn, yêu cầu cao về máy móc, trang thiết bị và thuốc men, trong xu hướng gia tăng các bệnh không lây nhiễm nên đòi hỏi chất lượng dịch vụ ngày càng cao. Bên cạnh đó, kết quả báo cáo kế hoạch thực hiện năm 2019 cho thấy có những tồn tại như quá tải, công tác đảm bảo thuốc còn chậm, thiếu một số thuốc đặc chủng bị gián đoạn một số thời điểm, cơ sở vật chất chưa bảo đảm, người bệnh phàn nàn về cơ sở vật chất, tương tác và giao tiếp của nhân viên y tế với người bệnh chưa tốt, với điểm trung bình các yếu tố này dưới 3,5 theo bộ tiêu chí chất lượng Bệnh viện. Mặc dù bệnh viện có tiến hành khảo sát sự hài lòng người bệnh theo tiêu chí A4.6 trong bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện.
Tuy nhiên, chỉ số lượng ít người bệnh (7-8 người bệnh/khoa) được phỏng vấn tại Trung tâm chẩn đoán và điều trị Ung Bướu và khảo sát đó cũng không tìm hiểu sâu những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ như nhân lực cung cấp dịch vụ; công tác kiểm tra, giám sát; chế độ lương, thưởng; công tác quản trị điều hành. Ngoài ra, không có bằng chứng cho thấy bộ công cụ được xây dựng của Bộ Y tế đã được chuẩn hoá. Năm 2020, bệnh viện chưa khảo sát chất lượng dịch vụ của người bệnh tại Trung tâm. Do đó chúng tôi, được phép của lãnh đạo bệnh viện, sẽ thực hiện nghiên cứu này để thay cho khảo sát thường niên năm 2020.
Câu hỏi đặt ra là: (1) Chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại Trung tâm chẩn đoán và điều trị Ung Bướu, Bệnh viện Quân y 175 như thế nào (2) Những yếu tố nào ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên. Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện đề tài: „Chất lƣợng dịch vụ điều trị nội trú và một số yếu tố ảnh hƣởng tại Trung tâm chẩn đoán và điều trị Ung Bƣớu, Bệnh viện Quân y 175, thành phố Hồ Chí Minh năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả chất lượng dịch vụ điều trị nội trú tại Trung tâm chẩn đoán và điều trị Ung Bướu, Bệnh viện Quân y 175 thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 2.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ điều trị nội trú tại Trung tâm chẩn đoán và điều trị Ung Bướu, Bệnh viện Quân y 175 thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 4 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm trong nghiên cứu 1. Dịch vụ Ngày nay, có một số khái niệm về dịch vụ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Một trong những khái niệm hay được sử dụng là: dịch vụ là “những loại hình lĩnh vực đem lại giá trị phục vụ nhu cầu của khách hàng.
Dịch vụ có thể hiểu là các hoạt động của một tổ chức được thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu của cá nhân, xã hội và cộng đồng. Do sự đa dạng về các loại hình, nên dịch vụ được phân loại và theo các nhóm chủ yếu sau: (1) Các loại hình dịch vụ thương mại như tài chính, bất động sản, giao thông vận tải…; (2) Các loại hình dịch vụ tiêu dùng như kinh doanh ăn uống, nghỉ dưỡng, giáo dục, y tế… và (3) Các loại hình dịch vụ do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cung cấp như các dịch vụ hành chính công, các dịch vụ sự nghiệp công (6). Chất lượng dịch vụ Cũng như khái niệm về dịch vụ, chất lượng dịch vụ cũng có một số khái niệm khác nhau tuỳ theo quan điểm và đặc thù cho từng loại ngành nghề khác nhau. Tuy vậy, dù ở ngành nghề nào thì các dịch vụ được cung cấp cũng đều có những yêu cầu và tiêu chí được xây dựng, đảm bảo dịch vụ có chất lượng khi được cung cấp đến khách hàng (7).
Một số khái niệm về chất lượng dịch vụ như sau: Chất lượng dịch vụ là dịch vụ được cung cấp theo các yêu cầu đề ra. Ví dụ các yêu cầu về sự tương tác và giao tiếp của nhân viên trong tổ chức đối với khách hàng là phải niềm nở, ân cần, chu đáo. Một khái niệm khác về CLDV là: “CLDV là khoảng cách giữa những kỳ vọng của khách hàng và thực tế những gì khách hàng nhận được”. Khoảng cách này càng nhỏ thì có nghĩa dịch vụ được cung cấp càng có chất lượng.
Các tác giả trên thế giới khi nghiên cứu CLDV theo khái niệm này thường đánh giá chất lượng qua các yếu tố: sự hữu hình, sự tin tưởng, sự đáp ứng, sự đảm bảo và sự cảm thông (8). Theo khái niệm khác thì Chất lượng là làm đúng việc và đúng phương pháp. Hiểu theo khái niệm này thì nhân viên trong tổ chức cần thực hiện những công việc 5 được giao theo chức năng và nhiệm vụ của tổ chức. Bên cạnh đó, họ cũng cần thực hiện các công việc theo đúng qui trình về chuyên môn hay kỹ thuật, đảm bảo không có hoặc hạn chế đến mức tối đa các sai sót xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ (5).
Chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và điều trị nội trú Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh là loại hình dịch vụ đặc biệt, ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và tính mạng của con người. Do vậy, dịch vụ này càng cần phải đảm bảo chất lượng khi được cung cấp. Tuy vậy, cũng chưa có khái niệm đồng nhất về chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Một trong những khái niệm về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh hay được sử dụng là “ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được cung cấp bởi các nhân viên y tế có năng lực, có tâm huyết trong công việc nhằm hạn chế tối đa các sai sót, không an toàn xảy ra đối với khách hàng”.
Theo đó, có thể hiểu đơn giản là các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được cung cấp một cách tốt nhất, không để bất kỳ sự cố nào xảy ra. Điều trị nội trú là trường hợp người bệnh đi khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, điều trị theo sự chỉ định của bác sĩ và nằm lại bệnh viện. Hoặc trường hợp đã điều trị nội trú ổn định sau đó tiếp tục theo dõi tại nhà (9), (10), (11). Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng khung hệ thống y tế gồm 06 cấu phần, trong đó có cấu phần cung ứng dịch vụ và đề ra các nguyên tắc của việc cung ứng dịch vụ.
Một trong các nguyên tắc là cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng đảm bảo cho hệ thống y tế đạt được các mục tiêu đầu ra (12).