ĐẶT VẤN ĐỀ Diễn biến mô hình bệnh tật trong những năm gần hết sức phức tạp và đa dạng, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật y học đòi hỏi đội ngũ thầy thuốc luôn luôn đƣợc đào tạo và rèn luyện trao dồi kiến thức. Trong thực hành y khoa để thực hiện một kỹ thuật ngƣời thầy thuốc có thể thực hành theo nhiều cách khác nhau để tiến tới mục đích cuối cùng là mang lại kết quả tốt nhất cho ngƣời bệnh nhƣng dù thực hành thế nào cũng cần phải đƣa ra đƣợc những chuẩn mực chung, những nguyên tắc cần phải tuân thủ, các bƣớc tiến hành không thể thiếu… nhằm giúp cho thầy thuốc thực hành tránh những sai sót đáng tiếc có thể xảy ra. Việc chuẩn hoá các quy trình kỹ thuật y tế tại các bệnh viện hiện nay đang là một vấn đề cấp thiết nhằm nâng cao chất lƣợng chuyên môn. Thật vậy để giải quyết vấn đề cấp thiết trên, Bộ Y Tế ban hành Hƣớng dẫn quy trình chăm sóc ngƣời bệnh tập I, II áp dụng cho các bệnh viện trong toàn quốc[8],[10].
Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nƣớc là Bệnh viện khu vực 2 của tỉnh Cà Mau là bệnh viện hạng II với quy mô 370 giƣờng kế hoạch, thực kê 450 giƣờng. Bệnh viện đã thực hiện thực hiện các kỹ thuật theo phân cấp và đƣợc Sở y tế Cà Mau cho phép trong nhiều năm qua. Thực hiện thông tƣ số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 về Hƣớng dẫn công tác điều dƣỡng về chăm sóc ngƣời bệnh trong bệnh viện với nguyên tắc lấy ngƣời bệnh là trung tâm, chăm sóc toàn diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lƣợng và an toàn là nhiệm vụ toàn thể nhân viên bệnh viện; trong đó, điều dƣỡng viên của bệnh viện chịu trách nhiệm thực hiện[15]. Thực hiện Hƣớng dẫn Tiêm an toàn tại Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 nhằm cung cấp những chỉ dẫn an toàn trong thực hành tiêm mới nhất để triển khai áp dụng thống nhất trong tất cả các cơ sở KBCB, cơ sở đào tạo cán bộ y tế.
Sở y tế Cà Mau là một trong 63 đơn vị cấp Sở trực thuộc Bộ y tế đã triển khai thực hiện Hƣớng dẫn Tiêm an toàn tới tất cả các BV trong toàn tỉnh. Ngành y tế Cà Mau có 11 Bệnh viện cấp huyện và 01 bệnh viện cấp tỉnh, một số bệnh viện chuyên khoa và bệnh viện tƣ nhân hoạt động trên địa bàn, vì vậy việc triển khai thực hiện hƣớng dẫn Tiêm an toàn cũng gặp một số khó khăn nhất định. 2 Đến thời điểm hiện tại, chƣa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng thực hành tiêm an toàn của ĐDV tại các BV trực thuộc Sở Y tế Cà Mau sau triển khai thực hiện Hƣớng dẫn TAT. Tại bệnh viện ĐKKV Cái Nƣớc theo báo cáo tổng kết công tác khám chữa bệnh năm 2013 và việc thực hiện điều 12 của thông tƣ số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 đƣợc đánh giá là còn gặp nhiều hạn chế nhƣ: Một số quy trình kỹ thuật điều dƣỡng chƣa phù hợp, chƣa đƣợc cập nhật theo quy định.
Điều dƣỡng ở một số khoa, chƣa thực hiện đúng quy trình kỹ thuật tiêm. Dụng cụ dùng trong các kỹ thuật, thủ thuật xâm lấn đôi khi chƣa đảm bảo vô khuẩn. Việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, theo dõi, phát hiện các tai biến chƣa kịp thời[2]. Các thực trạng trên đang tồn tại ở bệnh viện chúng tôi, nhƣng chúng tôi thiếu các dữ liệu đánh giá cụ thể và chƣa tìm thấy nghiên cứu nào đã công bố về vấn đề này.
Từ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành quy trình tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch của điều dƣỡng viên tại Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nƣớc, Cà Mau năm 2015.” Với mục tiêu nghiên cứu này nhằm tìm ra những bằng chứng khoa học nhằm hỗ trợ cho các cấp quản lý nói chung và Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nƣớc nói riêng về công tác thực hành quy trình tiêm. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng thực hành quy trình tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch của điều dƣỡng viên tại Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nƣớc, Cà Mau năm 2015. Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành quy trình tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch của điều dƣỡng viên tại Bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nƣớc, Cà Mau năm 2015.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm đƣợc sử dụng trong nghiên cứu. Định nghĩa về điều dƣỡng Năm 1965, Hội điều dƣỡng Mỹ đƣa ra định nghĩa “Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc đóng góp vào việc phục hồi và nâng cao sức khỏe”[9]. Tại Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Khoa học xã hội 1999 định nghĩa “Y tá là ngƣời có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc ngƣời bệnh theo y lệnh bác sĩ”.
Định nghĩa này chƣa phản ánh đầy đủ vị trí và vai trò của ngƣời điều dƣỡng cũng nhƣ nghề điều dƣỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hiện nay. Ngày nay, ngƣời điều dƣỡng đã đƣợc công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng với các bác sĩ, dƣợc sĩ, kỹ thuật viên và các thành phần trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, ngƣời làm điều dƣỡng gọi là điều dƣỡng viên. Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV, ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội vụ, quy định chức trách của điều dƣỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dƣỡng cơ bản và kỹ thuật điều dƣỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế. Công tác chăm sóc ngƣời bệnh Chăm sóc điều dƣỡng là những chăm sóc chuyên môn của ngƣời điều dƣỡng đối với ngƣời bệnh từ khi vào viện đến lúc ra viện.
Nội dung chính bao gồm: chăm sóc thể chất, tinh thần, dinh dƣỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo dõi, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe cho ngƣời bệnh. Chăm sóc điều dƣỡng bắt đầu từ lúc ngƣời bệnh đến khám, vào viện và cho đến khi ngƣời bệnh ra viện hoặc tử vong[22]. Chăm sóc ngƣời bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi ngƣời bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tƣ thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trƣờng bệnh viện cho ngƣời bệnh[15]. 5 Nguyên tắc chăm sóc ngƣời bệnh trong bệnh viện là đảm bảo “Lấy ngƣời bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị” dựa trên đánh giá các nhu cầu của ngƣời bệnh và hƣớng tới ngƣời bệnh để phục vụ[15].
Chức năng của ngƣời điều dƣỡng Chức năng của ngƣời điều dƣỡng theo Tổ chức Y tế thế giới, đƣợc thể hiện ở ba chức năng chính (1) chức năng phụ thuộc: là các hoạt động thực hiện theo y lệnh của bác sĩ; (2) chức năng phối hợp: là phối hợp với các thành viên trong nhóm chăm sóc, nhân viên chuyên ngành khác, phối hợp với ngƣời bệnh để hoàn thành kế hoạch CSNB đạt hiệu quả cao; (3) chức năng độc lập: là các hoạt động trong phạm vi kiến thức đƣợc đào tạo để thực hành, chẩn đoán điều dƣỡng và xử trí không cần bác sĩ ra y lệnh nhƣ đáp ứng 14 nhu cầu cơ bản của ngƣời bệnh[35]. Vai trò và nhiệm vụ của ngƣời điều dƣỡng Vai trò ngƣời chăm sóc là thuộc tính cơ bản của ngƣời điều dƣỡng, đây là nền tảng của mọi can thiệp điều dƣỡng. Jen Watson cho rằng: Thực hành chăm sóc là hạt nhân của nghề điều dƣỡng[9]. Chăm sóc thể hiện ở việc sử dụng quy trình kỹ thuật để thực hiện chăm sóc ngƣời bệnh; Theo dõi diễn tiến bệnh và báo ngay với bác sĩ những dấu hiệu bất thƣờng; thực hiện các y lệnh điều trị, chăm sóc; thực hiện các kỹ thuật thực hành điều dƣỡng theo đúng quy trình, đồng thời đảm bảo vô khuẩn, hạn chế nhiễm trùng bệnh viện[35].
Ngày 26/01/2011 Bộ Y tế đã có quy định mới nhất về nhiệm vụ của điều dƣỡng viên, hộ sinh viên về công tác chăm sóc ngƣời bệnh trong bệnh viện với 12 nhiệm vụ cụ thể là: (1) Tƣ vấn, hƣớng dẫn giáo dục sức khỏe; (2) Chăm sóc về tinh thần; (3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân; (4) Chăm sóc dinh dƣỡng; (5) Chăm sóc phục hồi chức năng; (6) Chăm sóc ngƣời bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; (7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho ngƣời bệnh; (8) Chăm sóc ngƣời bệnh giai đoạn hấp hối và ngƣời bệnh tử vong; (9) Thực hiện các kỹ thuật điều dƣỡng; (10) Theo dõi, đánh giá ngƣời bệnh; (11) Bảo đảm an toàn phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc ngƣời bệnh; (12) Ghi chép hồ sơ bệnh án[15]. Nhân lực điều dƣỡng: Điều đƣỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ƣu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thƣơng; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con ngƣời; tăng cƣờng chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Điều dƣỡng đã đƣợc công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng cộng tác với các bác sỹ, dƣợc sỹ, kỹ thuật viên và các thành phần khác trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, ngƣời làm nghề điều dƣỡng gọi là điều dƣỡng viên. Ngày nay, điều dƣỡng ở hầu hết các nƣớc trên thế giới đều đƣợc công nhận là một nghề nghiệp độc lập, đƣợc bảo hộ bằng luật pháp, một số nƣớc đã xây dựng luật hành nghề điều dƣỡng.
Ở nƣớc ta, Ngƣời điều dƣỡng có các quyền và trách nhiệm nghề nghiệp đƣợc quy định trong luật Khám chữa bệnh, đây cũng là một công cụ để giám sát trách nhiệm của ngƣời điều dƣỡng trƣớc cộng đồng, xã hội. Do đó, để đƣợc làm việc trong nghề điều dƣỡng thì ngƣời điều dƣỡng cần phải có các bằng cấp nhất định, ở nƣớc ta là chứng chỉ hành nghề. Thông thƣờng ngƣời có chứng chỉ hành nghề điều dƣỡng phải định kỳ tham gia các khoá đào tạo đào tạo lại để đảm bảo ngƣời điều dƣỡng luôn luôn cập nhật, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Điều dƣỡng đã xây dựng cho mình một hệ thống học thuyết khoa học phong phú áp dụng vào chăm sóc ngƣời bệnh, nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp.
Bên cạnh đó hiệp hội điều dƣỡng quốc tế (ICN) ra đời đã thúc đẩy vị trí, vai trò nghề nghiệp của ngƣời điều dƣỡng[43].