ĐẶT VẤN ĐỀ Gãy xương là một chấn thương thường gặp và xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu là lứa tuổi lao động và có xu hướng ngày càng gia tăng do sự phát triển của các phương tiện giao thông và sự phát triển của nền công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế, đặc biệt là cơ sở hạ tầng đường xá chật hẹp so với các phương tiện đông đúc, việc lao động, sản xuất, các phương tiện bảo hộ cho người lao động, cũng như nhận thức của con người về phòng hộ cho bản thân cũng còn nhiều bất cập [3]; [8]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, nguyên nhân phổ biến gây ra gãy xương là do tai nạn như tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, tai nạn giao thông, trong đó tai nạn giao thông chiếm 50% [50]. Gãy xương có thể biểu hiện từ đơn giản như vết nứt nhỏ đến gãy nát hoàn toàn; gãy xương có thể bị bỏ qua, không điều trị gì mà vẫn lành lặn bình thường cho đến những xương gãy được điều trị tích cực ngay từ đầu mà vẫn để lại những di chứng nặng nề, khó chữa. Hiện nay, tồn tại các hình thức phổ biến cho điều trị gãy xương là: Bất động ngoài, phẫu thuật cố định ngoài, phẫu thuật kết hợp xương bên trong.
Chọn lựa một giải pháp cho điều trị gãy xương phụ thuộc vào xương gãy, tình trạng người bệnh, trang thiết bị và đội ngũ chuyên môn [7]. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý học và tính chất tổn thương của xương rất đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, việc chẩn đoán gãy xương không gặp nhiều khó khăn nhờ các bằng chứng lâm sàng và cận lâm sàng như: xquang, CTscanner,… nhưng để tiên lượng và đánh giá mức độ tổn thương, từ đó lựa chọn phương pháp điều trị hợp lý, giảm tối đa những biến chứng, di chứng là rất quan trọng nhằm phục hồi chức năng tốt nhất ở cơ quan bị tổn thương là việc làm rất cần thiết. Vai trò của người điều dưỡng viên rất quan trọng trong công tác theo dõi chăm sóc người bệnh sau mổ xương để tránh các biến chứng sau mổ điều trị gãy xương, hiện có nhiều phương pháp như điều trị bảo tồn đai Desault, bó bột, phẫu thuật kết hợp xương (bằng các phương pháp như nẹp vis, đóng đinh nội tủy, phẫu thuật xuyên kim Kirschner) [7].
Trong trường hợp được điều trị tốt thì xương sẽ liền trong 3 đến 4 tuần, song vẫn còn một số biến chứng trong quá trình điều trị theo dõi chăm sóc sát sao để sớm phát hiện như chèn ép khoang, nhiễm trùng, teo cơ, cứng khớp, các triệu chứng về thần kinh như đau, tê ở cơ quan bị tổn thương mà chưa được phối hợp phục hồi chức năng sớm cho người bệnh. Việc giúp người bệnh sớm lấy lại được chức năng sau mổ Thang Long University Library 2 xương là rất cần thiết. Vì vậy để hạn chế các biến chứng, người bệnh cần phải được điều trị, chăm sóc, theo dõi sâu sát trong quá trình điều trị sau phẫu thuật nhằm phát hiện sớm các biến chứng cũng như tư thế xấu để xử lý kịp thời [15]; [23]. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật xương nhưng tại bệnh viện chưa có đề tài nghiên cứu về kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật xương.
Do đó, để góp phần chăm sóc, theo dõi, điều trị tốt hơn cho người bệnh sau phẫu thuật xương tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau, tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “Kết quả chăm sóc ngƣời bệnh gãy xƣơng sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan tại khoa Chấn thƣơng chỉnh hình Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Cà Mau năm 2021” với hai mục tiêu chính như sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ngƣời bệnh gãy xƣơng sau phẫu thuật tại khoa Chấn thƣơng chỉnh hình Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Cà Mau năm 2021. Phân tích kết quả chăm sóc ngƣời bệnh và một số yếu tố liên quan đến ngƣời bệnh gãy xƣơng sau phẫu thuật. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Bệnh học về gãy xƣơng: 1. Định nghĩa Gãy xương là tình trạng thương tổn làm mất tính liên tục của xương do nguyên nhân có thể do chấn thương hoặc do bệnh lý. Mất tính liên tục hoàn toàn gọi là gãy xương hoàn toàn, mất tính liên tục không hoàn toàn gọi là gãy xương không hoàn toàn [6] (hình 1. Hình ảnh gãy xương Nguồn[19].
Phân loại gãy xương a. Theo nguyên nhân Gãy xƣơng do chấn thƣơng: gãy xương xảy ra sau tác động của 1 lực chấn thương. Có thể do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt hoặc vết thương hoả khí. Gãy xƣơng do bệnh lý: một số bệnh lý gây phá huỷ xương và làm gãy xương.
Các bệnh hay gặp là u xương ác tính, viêm xương tuỷ xương, lao xương,…(hình 1. Gãy xương bệnh lý Nguồn [19] Thang Long University Library 4 b. Theo cơ chế gãy xƣơng - Chấn thƣơng trực tiếp: là gãy xương xảy ra tại vị trí lực chấn thương tác động vào. Xương thường bị gãy ngang hoặc gãy nhiều mảnh , lực chấn thương còn gây nên các thương tổn tại tổ chức phần mềm.
- Chấn thƣơng gián tiếp: là gãy xương xảy ra ở vị trí xa nơi lực chấn thương tác động. Các lực tác động vào xương có thể dưới các dạng: + Lực giằng dật, co kéo: thường gây bong đứt các mấu, các mỏm xương nơi bám của các gân hoặc dây chằng. + Lực gập góc: làm tăng độ cong của xương, xương gãy ở điểm yếu với mảnh gãy chéo vát, có thể có mảnh rời hình cánh bướm. + Lực xoay: xảy ra khi người bệnh bị ngã chân tỳ giữ trên mặt đất trong khi người bị xoay.
Xương thường bị gãy chéo vát hoặc xoắn vặn. + Lực đè ép: thường gây gãy lún ở các vùng xương xốp. Điển hình là ngã từ cao đập gót xuống đất gây sập đồi gót, lún mâm chày, gãy cổ xương đùi, gãy xẹp thân đốt sống [18]. Theo tính chất gãy Gãy xƣơng không hoàn toàn: xương chỉ bị tổn thương 1 phần không mất hoàn toàn tính liên tục.
Gãy dưới cốt mạc: đường gãy nằm dưới cốt mạc, cốt mạc không bị rách ổ gãy thường không di lệch. Loại gãy này thường xảy ra ở trẻ em do lớp cốt mạc dày dai khó bị rách. Gãy rạn hoặc nứt xương: vết nứt chỉ ở 1 phía của vỏ xương. Gãy cành xanh: là kiểu gãy toác giống như bẻ 1 cành cây xanh, ở loại gãy này 1 bên vỏ xương bị gãy toác còn bên kia bị cong lõm vào gây ra di lệch gập góc.
Gãy lún: là loại gãy xảy ra ở các vùng xương xốp, các bè xương xốp bị lún ép lại dưới tác động của 1 lực nén ép. Ví dụ: gãy lún thân đốt sống, gãy lún mâm chày (hình 1. Gãy lún thân đốt sống, B. Gãy cành xanh Nguồn [28] Gãy xƣơng hoàn toàn: xương gãy và mất hoàn toàn tính liên tục.
Theo vị trí gãy: Gãy đầu xƣơng: vị trí gãy ở vùng đầu xương. Đây là vùng xương xốp, xương thường dễ liền. Nếu đường gãy thông vào khớp thì gọi là gãy xương phạm khớp. Nếu đường gãy không thông vào khớp thì gọi là gãy xương không phạm khớp.
Loại gãy này nắn chỉnh bảo tồn khó đạt kết quả và thường để lại di chứng hạn chế vận động khớp do bất động quá lâu, thường phải chỉ định phẫu thuật để khôi phục hình thể mặt khớp, cố định vững chắc ổ gãy và cho người bệnh vận động sớm để phục hồi chức năng khớp kế cận[18]. Gãy ở chỗ tiếp giáp giữa đầu xƣơng và thân xƣơng: đầu gãy thân xương cứng có thể cắm gắn vào đầu xương xốp, do đó thường dễ liền xương. Tuy nhiên loại gãy này cũng thường ảnh hưởng tới biên độ vận động khớp nếu người bệnh không tập vận động tích cực. Ở trẻ em còn sụn tiếp hợp: thì gãy xương có thể xảy ra ở vùng sụn tiếp hợp còn được gọi là bong sụn tiếp hợp.
Loại gãy này xương rất nhanh liền, đòi hỏi phải được nắn chỉnh sớm. Gãy vùng thân xƣơng: đây là vùng xương cứng có ống tuỷ, thường được chia ra gãy 1/3 trên, 1/3 giữa, /1/3 dưới. Trong trường hợp xương gãy hoàn toàn thường có di lệch điển hình tuỳ theo vị trí gãy do các cơ co kéo. Theo đặc điểm của đƣờng gãy Gãy ngang: là các gãy xương với đường gãy nằm ngang, tạo với trục của thân xương 1 góc 90°.
Loại gãy này thường gặp do lực chấn thương tác động trực tiếp vào Thang Long University Library 6 xương tạo nên 1 lực bẻ hoặc gặp trong các gãy xương bệnh lý. Đặc điểm của loại gãy này là gãy vững, khó nắn chỉnh, nhưng khi nắn chỉnh được thì ít bị di lệch thứ phát. Gãy chéo vát: đường gãy xương nằm chếch, tạo với trục thân xương 1 góc nhọn. Loại gãy này thường gặp do cơ chế gián tiếp với lực xoay.
Đặc điểm gãy không vững, các đầu gãy có xu hướng bị trượt đi. Nắn chỉnh dễ nhưng khó giữ cố định, dễ di lệch thứ phát. Gãy xoắn: đường gãy xoắn vặn như vỏ đỗ thường gặp do cơ chế gián tiếp với lực xoắn vặn. Các đầu gãy thường sắc nhọn, dài rất khó nắn chỉnh, khó giữ được cố định, dễ di lệch thứ phát.
Gãy xƣơng có mảnh rời: xương bị gãy kèm theo có mảnh vỡ rời. Gãy xƣơng thành nhiều đoạn: xương có thể bị gãy thành 2 hoặc 3 đoạn. Đặc điểm đường gãy A. Gãy nhiều mảnh rời E Gãy nhiều đoạn, Nguồn [28].
Ngoài ra còn có các kiểu đƣờng gãy đặc biệt khác nhƣ: Gãy cắm gắn: là loại gãy xương ở vị trí tiếp giáp giữa đầu xương và thân xương, do lực chấn thương gián tiếp. Đầu xương cứng cắm vào xương xốp. Gãy xương vững và liền xương nhanh. Gãy bong dứt điểm bám: do các co kéo đột ngột của các cơ làm bong đứt 1 mẩu xương tại chỗ bám của gân cơ và dây chằng.
Ví dụ bong mấu động lớn xương cánh tay, bong lồi củ trước xương chày, bong gai chày, … 7 f. Theo di lệch của các đầu xƣơng gãy Gãy xƣơng không di lệch: xương bị gãy nhưng các đầu gãy không bị di lệch. Thường gặp trong các loại gãy xương không hoàn toàn. Gãy xƣơng có di lệch: các đầu xương gãy bị lệch khỏi vị trí.
Cơ chế di lệch: di lệch ổ gãy xương do các yếu tố sau: lực co kéo của các cơ, tác động của lực chấn thương, tác động của trọng lượng chi.