CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI, BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CHÍNH CỦA NÓ. Bối cảnh hình thành đề tài Tai biến mạch máu não đang là thời sự cấp bách của ngành y và cũng là vấn đề thực hành của nhiều chuyên khoa như: cấp cứu, thần kinh, tim mạch, phục hồi chức năng,.của nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước Campuchia. Ở Campuchia trong những năm gần đây, tai biến mạch máu não có chiều hướng gia tăng. Sự gia tăng này liên quan đến mức sống của người dân Campuchia ngày được cải thiện.
Tai biến mạch máu não có thể gây chết người nhanh chóng, nhưng nhiều khi để lại di chứng nặng nề gây thiệt hại lớn cho bản thân, gia đình và xã hội. Tai biến mạch máu não được phân chia thành hai thể: nhồi máu não chiếm gần 80% và xuất huyết não chiếm 20%. Theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) về nguyên nhân tai biến mạch máu não, đứng hàng đầu là xơ vữa động mạch não, sau đó là tăng huyết áp, hai yếu tố này có thể đi cùng hay riêng rẽ, tiếp đây là nghẽn mạch máu do cục huyết khối từ tim lên não. Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây xuất huyết não, nhất là kèm theo xơ vữa động mạch.
Khi bị tai biến mạch máu não tổn thương chính là ở não, còn di chứng liệt nửa người là hệ quả của sự tổn thương ấy. Nhiều công trình nghiên cứu cho biết: Di chứng liệt nửa người có ở 92,62% bệnh nhân sau tai biến mạch máu não. Hơn nữa 94% bệnh nhân sau tai biến mạch máu não sống trong cộng đồng có nhu cầu điều trị phục hồi chức năng vận động .Bệnh nhân sau tai biến mạch máu não các yếu tố như: xơ vữa động mạch máu não, huyết 1 áp cao vẫn còn đấy. Chính vì vậy một điều dễ nhận thấy ở bệnh nhân sau tai biến mạch máu não lượng máu cần thiết cung cấp cho não luôn ở trạng thái không đầy đủ.
Ở Campuchia để điều trị phục hồi chức năng vận động và trí lực ở bệnh nhân bị liệt nửa người sau tai biến mạch máu não thường sử dụng: Vật lý trị liệu kết hợp với thuốc tân dược, tuy có kết quả song không cao thời gian điều trị phải kéo dài. Điều này khiến cho bệnh nhân không kiên trì theo đuổi điều trị. Điều trị phục hồi chức năng vận động bằng châm cứu được thực hiện bởi người Hoa và người Việt sống ở Campuchia. Những người thầy thuốc này thường sử dụng điện châm hoặc hào châm trong điều trị phục hồi chức năng vận động các phương thức điều trị này đóng vai trò khá tốt trong điều trị phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân sau tai biến mạch máu não.
Song chúng có chung nhược điểm, mà tự chúng không thể khắc phục được đó là kích thích các huyệt trên các chi bị liệt là phản hồi dẫn truyền hướng tâm các xung động để tác động vùng định khu chức năng vận động ở não bộ, nhằm giúp cho định khu này khó trong thực tế lâm sàng. Đây là phương thức chữa gốc bệnh khởi đầu từ ngọn ngược về. Chính điều này dẫn đến hiệu quả điều trị chua cao.mặt khác khi điều trị bằng các phương pháp nêu trên tuy chức năng vận động của bệnh nhân được cải thiện, song các nguyên nhân gây ra tai biến mạch máu não như: xơ vữa động mạch, huyết áp cao vẫn còn đấy. Điều này rất khó tránh khỏi tai biến mạch máu não lần kế tiếp.
Trong thời gian học tập tại Trường Đại học Bách khoa Tp. Tôi đã tiếp cận và tìm hiểu phương pháp điều trị phục hồi chức năng vận động và trí lực ở bệnh nhân bị liệt nửa người sau tai biến mạch máu não bằng Laser bán dẫn công suất thấp. Tôi nhận thấy phương pháp này rất khá hoàn chỉnh về mặt lý thuyết và thực nghiệm chính vì vậy, tôi rất muốn đưa phương pháp mới này ứng dụng tại đất nước chùa tháp Campuchia. Đó chính là bối cảnh hình thành đề tài luận văn thạc sỹ của tôi.
Mục tiêu và nhiệm vụ chính của đề tài 1. Mục tiêu thứ nhất Để hoàn thành tốt việc ứng dụng phương pháp điều trị phục hồi chức năng vận động và trí lực ở người Campuchia bị liệt nửa người sau tai biến mạch máu não bằng Laser bán dẫn công suất thấp tại Việt Nam. Trong quá trình thực hiện điều trị sẽ lưu ý đến vấn đề sau: Sắc tố da ở người Campuchia đậm hơn so với người Việt Nam chính vì vậy, khi sử dụng phương pháp quang châm và quang trị liệu cần chú ý đến việc chỉnh công suất. Mục tiêu thứ hai Đây là mục tiêu lâu dài từng bước triển khai phương pháp điều trị này trên đất nước Campuchia.
Các nhiệm vụ chính của đề tài luận văn Để thực hiện tốt hai mục tiêu nêu trên, cần phải hoàn thành các nhiệm vụ chính sau đây: 1. Tổng quan các vấn đề chính liên quan trực tiếp đến đề tài, trên cơ sở này trình bày bối cảnh hình thành đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ chính của nó. Xây dựng phương pháp điều trị phục hồi chức năng vận động và trí lực ở bệnh nhân bị liệt nửa người sau tai biến mạch máu não bằng sự kết hợp quang châm-quang trị liệu laser bán dẫn loại 12 kênh với laser bán dẫn nội tĩnh mạch. Tổ chức nghiên cứu sử dụng phương pháp nêu trên trong điều trị thực nghiệm lâm sàng.
Đánh giá hiệu quả điều trị của phương pháp mới. Kết quả điều trị phục hồi chức năng và trí lực ở người Campuchia bị liệt nửa người sau tai biến mạch máu não. 3 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2. Những vấn đề cơ bản về tai biến mạch máu não 2.
Định nghĩa của tai biến mạch máu não Theo [1][9][2] tai biến mạch máu não là các thiếu sót thần kinh với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa xảy ra đột ngột do mạch máu não (động mạch,mao mạch và hiếm hơn là tĩnh mạch) bị vỡ hoặc tắc mà không do chấn thương sọ não. Dịch tễ học Tai biến mạch máu não tăng theo lứa tuổi nhất là từ 50 tuổi trở lên. Nam thường ưu thế hơn giới nữ. Ở các nước công nghiệp phát triển Âu Mỹ nhồi máu não chiếm khoảng 80%, ở nước Việt Nam thì khoảng 60% số tai biến mạch máu não, còn lại là xuất huyết não.
Để đánh giá tình hình tai biến mạch máu não phải dựa vào 3 tỷ lệ sau đây: - Tỷ lệ mới mắc (incidence) theo Tổ chức Y tế thế giới là 150-250/100.000, ở nước Việt Nam nói chung từ 20 đến 35/100.000, tại Huế là 27,71/100000 dân theo điều tra dịch tễ học năm 1989-1994. - Tỷ lệ hiện mắc (Prevalence) theo Tổ chức Y tế thế giới là 500-700/100.000 dân ở Việt Nam khoảng 45-85/100. - Tỷ lệ tử vòng (Mortality) trên 100.000 dân nói lên tính chất trầm trọng của bệnh. Tỷ lệ này rất khác nhau giữa các nước từ 35-240/100.000 dân, ở Việt Nam 20-25/100.000 dân, tại Huế là 19,22/100000 dân.` Theo số liệu [14] ở Campuchia tai biến mạch máu não là một trong những loại bệnh gia tăng nhanh phổ biến nhất chiếm (cerebrovascular disease) chiếm 15% và nhồi máu não (Cerebral Infarction) chiếm 27%, bệnh tăng huyết áp gây ra tai biến mạch máu não năm 2017: 255,763 người.
- Tỷ lệ mặc bệnh tai biến mạch máu não năm 2014: 5301 người, năm 2015: 7118 người, năm 2016: 5459, năm 2017: 6162 người. 4 - Tỷ lệ mặc bệnh nhồi máu não, năm 2014: 2947 người , năm 2015: 2884 người năm 2016: 2585 người, năm 2017: 3461 người. Phân loại về tai biến mạch máu não Tai biến mạch máu não được chia thành hai thể chính: 2. Nhồi máu não (Thiếu máu cục bộ não/ nhũn não) Nhồi máu não xảy ra khi mạch máu bị nghẽn hoặc lấp.
Xuất huyết não Khi máu thoát ra khỏi mạch vỡ vào nhu mô não gọi là xuất huyết nội não, vào khoang dưới nhện gọi là xuất huyết dưới nhện, còn phối hợp hai loại trên gọi là xuất huyết não màng não. Các thể tai biến 2. Nguyên nhân Gồm có ba nhóm như sau: Tắc mạch (Thrombosis) - Xơ vữa động mạch thường gặp nhất khi trên 50 tuổi, nếu có đái tháo đường hoặc tăng huyết áp hoặc nghiện thuốc lá thì xơ vữa động mạch có thể gặp tuổi dưới 50. Hậu quả của xơ vữa động mạch là gây hẹp động mạch não (hẹp trên 80% mới có triệu chứng) và có thể gây lấp mạch từ mảng xơ vữa của các động mạch lớn.
- Viêm động mạch do viêm động mạch hạt Wegner, Giang mai, bệnh Lao, bệnh Takayashu, bệnh tạo kẹo, bệnh Horton,… - Bóc tách động mạch cảnh, sống lưng, đáy não. - Các bệnh máu: tăng hồng cầu, hồng cầu hình liềm, thiếu hồng cầu năng… - U não chèn ép các động mạch não. - Bệnh Moyamoya gây tắc mạch ở đa giác Willis làm tân sinh mạch nhỏ như khói thuốc lá. Bệnh Binswanger, Tăng Homocysteine máu.
Bệnh Fabry, bệnh ty lạp thể (Mitochondriopathy). Co mạch (Vasospasm) - Co mạch sau xuất huyết dưới nhện. - Co mạch hồi phục nguyên nhân không rõ, sau bán đầu thống, sang chấn sọ não, sản giật, hạ hoặc huyết áp quá mức. Lấp mạch (embolism) Nguồn gốc từ xơ vữa: chỗ phân đôi động mạch cảnh (50%), vòi cảnh (20%), động mạch sống lưng khúc tận, quai động mạch chủ.
5 Nguồn gốc từ tim khoảng 20%, dưới 45 tuổi (tim bẩm sinh), hẹp 2 lái, thấp tim, van giả, sa van 2 lá, loạn nhịp tim chủ yếu là rung nhĩ, hội chứng yếu xoang, viêm nội tâm mạch nhiễm khuẩn cấp hoặc bán cấp, nhồi máu cơ tim gai đoạn cấp,…ngoài ra còn có ung thư (phổi), động kinh, suy yếu tố C hoặc S, thuốc chống thụ thai… 2. Thiếu máu cục bộ não Thiếu máu cục bộ não chia làm hai loại tùy thuộc thời gian hồi phục hoặc không các triệu chứng xảy ra. Thiếu máu cục bộ não thoáng qua Rối loạn chức năng thần kinh khu trú, khởi đầu đột ngột, hồi phục trong vòng 24 giờ không để lại di chứng, do cục máu trắng (tiểu cầu) dễ tan, cục máu đỏ nhỏ, hoặc co thắt động mạch não thoáng qua. Thông thường triệu chứng tồn tại 5-15 phút.
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hỏi bệnh không có một tiêu chuẩn nào chắc chắn, Biểu hiện lâm sàng rất khác nhau tùy theo hệ cảnh hoặc sống nền. Thiếu máu cục bộ thoáng qua hệ cảnh: có thể biểu hiện một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: Mù tạm thời một mắt hoặc nhìn mờ. Liệt nhẹ nửa người thường liệt tay mặt ưu thế.Rối loạn cảm giác nửa người như tê bì, cảm giác nặng, mất nhận biết đồ vật hoặc tư thế vị trí.