Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan nhiễm khuẩn sau phẫu thuật 1. Khái niệm nhiễm khuẩn Nhiễm khuẩn: là sự tăng sinh của các vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng dẫn tới phản ứng tế bào, tổ chức hoặc toàn thân, thông thường biểu hiện trên lâm sàng là một hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc.
Nhiễm khuẩn bệnh viện: là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau 02 ngày kể từ khi người bệnh nhập viện. Nhiễm khuẩn vết mổ: NKBV trước đây được gọi là nhiễm khuẩn mắc phải ở bệnh viện hay nhiễm khuẩn do thầy thuốc. Hiện nay, WHO dùng khái niệm NKBV là nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế [16].
NKVM là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ khi mổ cho đến 30 ngày sau mổ với PT không có cấy ghép và cho tới một năm sau mổ với PT có cấy ghép bộ phận giả (PT implant). Nhiễm khuẩn vết mổ được chia thành 3 loại [17]: - Giai đoạn rối loạn tuần hoàn tại chỗ: Bao gồm rối loạn vận mạch và dịch rỉ viêm. - Giai đoạn tế bào: Bao gồm hiện tượng bạch cầu xuyên mạch, hiện tượng thực bào. - Giai đoạn phục hồi sửa chữa: Nhằm loại bỏ các yếu tố gây bệnh, dọn sạch các tổ chức viêm, phục hồi tổ chức, tạo sẹo.
Chăm sóc hậu phẫu: bắt đầu khi kết thúc phẫu thuật, tiếp tục trong phòng hồi tỉnh và trong suốt thời gian nằm viện và ngoại trú. 4 Chăm sóc hậu phẫu sản phụ khoa: - Ngày 1 (≤ 24 giờ sau mổ): Theo dõi tổng trạng, tri giác, dấu sinh tồn (M, HA, HH, NĐ), nước tiểu mỗi 4 – 6 giờ, tình trạng bụng mỗi 4 – 6 giờ (các vết mổ có chảy máu, tụ máu không; bụng có chướng, có phản ứng thành bụng không), âm đạo có ra huyết, ra dịch không, có nhu động ruột và trung tiện chưa. - Ngày 2 đến khi xuất viện: Theo dõi M, HA, NĐ, hô hấp, nước tiểu mỗi 12 giờ; tình trạng bụng (chướng, phản ứng thành bụng, vết mổ, …); âm đạo có ra huyết, ra dịch không; có trung tiện lại chưa; khuyến khích ngồi dậy, đi lại nhiều hơn; ngưng dịch truyền hoàn toàn, nếu không có chỉ định đặc biệt; cho ăn uống lại bình thường; khám âm đạo trước khi xuất viện. Phân loại nhiễm khuẩn 1.
Nhiễm khuẩn vết mổ nông - Mô liên quan: da và mô dưới da. - Dấu hiệu và triệu chứng: + Mủ chảy ra từ mép vết mổ. + Dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm khuẩn: đau, sưng, đỏ, nóng. + Cấy phân lập được vi khuẩn tại vết mổ.
Nhiễm khuẩn vết mổ sâu - Mô liên quan: mô mềm sâu trong vết mổ. - Dấu hiệu và triệu chứng: + Mủ chảy ra từ sâu trong vết mổ nhưng không từ cơ quan hay khoang của cơ thể. + Vết mổ tự động vỡ ra hay do phẫu thuật viên mở ra khi người bệnh có ít nhất các triệu chứng sau: sốt > 380C, đau tại chỗ vết mổ. + Cấy phân lập được vi khuẩn từ mủ vết mổ có áp-xe hay có bằng chứng khác của nhiễm khuẩn.
Thang Long University Library 5 1. Nhiễm khuẩn cơ quan và khoang ổ bụng - Mô liên quan: bất kỳ tạng nào thì giải phẫu được mở ra do dùng tay trong giải phẫu. - Dấu hiệu và triệu chứng: + Mủ chảy ra từ ống dẫn lưu đặt trong khoang hay cơ quan cơ thể. + Áp-xe hay có bằng chứng khác của nhiễm khuẩn.
+ Cấy dịch ống dẫn lưu phân lập được vi khuẩn. Các mức độ nhiễm khuẩn vết mổ Nguồn: theo WHO (2012) [14] 1. Phương thức truyền bệnh của nhiễm khuẩn vết mổ Truyền bệnh trực tiếp: Tiếp xúc trực tiếp với cơ thể, trung gian truyền bệnh giữa vật chủ nhạy cảm với một người bị nhiễm bệnh. Truyền trực tiếp tiếp xúc cũng có thể xảy ra giữa hai bệnh nhân, hoặc bệnh nhân với NVYT.
Phương thức lây truyền bao gồm: tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân truyền bệnh, tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch người mang vi sinh vật, tiếp xúc trực tiếp qua da, niêm mạc, bộ phận cơ thể [4]. Truyền bệnh gián tiếp: Là đường tiếp xúc giữa cơ thể cảm thụ với vật trung gian bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh thường là các dụng cụ, phương tiện y tế, bơm kim tiêm, quần áo, qua tay bẩn [4]. Một số vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết mổ Có rất nhiều loại vi sinh vật gây NKVM. Các vi sinh vật này thay đổi tuỳ theo các đối tượng bệnh nhân khác nhau, theo từng khoa phòng, từng bệnh viện, đặc biệt có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng miền và quốc gia.
Vi khuẩn Vi khuẩn là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp nhất, môi trường bệnh viện là nơi thích hợp chọn lọc các vi khuẩn kháng thuốc. Vì vậy nhiễm khuẩn bệnh viện và nhiễm khuẩn vết mổ thường do các vi khuẩn đa kháng kháng sinh gây nên [50]. Vi khuẩn gây NKVM gồm vi khuẩn cộng sinh và vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, một số vi khuẩn sống cộng sinh có thể trở thành vi khuẩn gây bệnh nội sinh nếu hàng rào bảo vệ của vật chủ bị tổn thương.
Vi khuẩn gây bệnh thường có độc lực mạnh, có thể gây nhiễm khuẩn tại chỗ hay toàn thân. Đa số các vi khuẩn gây bệnh đều có thể gây ra NKVM nhưng có một số loại vi khuẩn chủ yếu gây nên các nhiễm khuẩn này là Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii [14], [51]. - Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) Tụ cầu (Staphylococcus) là một trong những vi khuẩn gây bệnh được ghi nhận sớm nhất. Năm 1880, Louis Pasteur đã phân lập được tụ cầu.
Năm 1881, Ogston đã gây bệnh thực nghiệm [18]. Nhiều loài (species) là những tụ cầu cộng sinh và một vài loài là vi khuẩn gây bệnh giới hạn. Vi khuẩn thường trú ở da, đường hô hấp trên của người và động vật. Tỷ lệ mang vi khuẩn cao, đặc biệt trên da, tay và trong hốc mũi của bệnh nhân nằm viện và nhân viên y tế.
Staphylococcus aureus đang được coi là tác nhân quan trọng hàng đầu gây NKVM [19]. Hiện nay đã xuất hiện nhiều chủng tụ cầu kháng lại nhiều loại Thang Long University Library 7 thuốc kháng sinh làm cho NKVM thường nặng, cách điều trị tốt nhất là dựa vào kết quả kháng sinh đồ. - Staphylococcus coagulase (-) Staphylococcuscoagulase (-) là vi khuẩn thường trú trên da, trong mũi của các nhân viên y tế hoặc bệnh nhân. Trước đây chúng được coi là vi khuẩn tạp nhiễm vào bệnh phẩm, không phải vi khuẩn gây bệnh [12].
Ngày nay đã có nhiều nghiên cứu cho thấy Staphylococcus coagulase (-) cũng có thể gây bệnh NKVM giống như Staphylococcus aureus. Mức độ đề kháng kháng sinh của các Staphylococcus coagulase (-) cũng giống như Staphylococcus aureus. Nhiễm trùng do Staphylococcus coagulase (-) ít gặp và thường là nhiễm trùng liên quan đặt các dụng cụ trong lòng mạch máu [51]. - Liên cầu đường ruột (Enterococcus faecalis) Các Enterococcus là vi khuẩn thường trú ở đường tiêu hoá của người.
Ngoài ra, chúng có thể cư trú trong đường tiêu hóa của gia cầm, gia súc, lợn, chó, ngựa, cừu, dê. Tuy nhiên, Enterococcus được xếp đứng hàng thứ 3 trong số các tác nhân gây bệnh. Enterococcus là vi khuẩn đề kháng tự nhiên với nhiều loại kháng sinh như các kháng sinh thuộc phân nhóm cephalosporin, các kháng sinh nhóm aminoglycoside (trừ các aminoglycoside có nồng độ cao), clindamycin và co-trimoxazol nên hiệu quả lâm sàng của các kháng sinh này trong việc điều trị nhiễm khuẩn do Enterococcus là kém, mặc dù kết quả kháng sinh đồ trên in vitro có thể là nhạy cảm. Để điều trị các nhiễm khuẩn do Enterococcus hiện nay sử dụng phối hợp giữa một kháng sinh thuộc nhóm beta-lactam với một aminoglycoside [20].
Tuy nhiên, cũng giống như các Streptococcus nói chung, Enterococcus kháng tự nhiên với aminoglycoside có nồng độ thấp. Vì vậy phối hợp penicillin G hoặc ampicillin với aminoglycoside thường được chỉ định trong điều trị viêm nội tâm mạc để tăng tác dụng hiệp đồng. 8 - Trực khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae) Enterobacteriaceae là một họ lớn, phức tạp và có vai trò gây bệnh quan trọng. Các trực khuẩn Gram âm họ các vi khuẩn đường ruột là những vi khuẩn thường trú trên cơ thể.
Tuy là vi khuẩn cộng sinh ở người nhưng chúng đều có khả năng gây bệnh cơ hội. Đặc biệt chúng đều có thể là tác nhân gây NKBV. Các trực khuẩn đường ruột gây bệnh quan trọng là Escherichia coli, Klebsiella spp, Enterobacter spp, Serratia spp, Proteus spp, trong đó Escherichia coli là vi khuẩn gây bệnh quan trọng nhất [51]. Các nhà khoa học Úc ở Trung tâm nghiên cứu nhiễm trùng đã lên tiếng báo động rằng, chủng ST131 của tác nhân gây bệnh Escherichia coli có thể kháng thuốc hoàn toàn chỉ do một đột biến gene không đáng kể [21].
Các vi khuẩn này thường có tỷ lệ kháng kháng sinh cao. Có rất nhiều loại kháng sinh để điều trị bệnh do trực khuẩn đường ruột gây ra nhưng tính kháng thuốc của chúng thay đổi rất nhanh chóng qua trung gian R-plasmit [22]. - Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) Trực khuẩn mủ xanh là một trong những vi khuẩn chủ yếu gây NKBV. Chúng có ở khắp nơi trong bệnh viện như ở đầu các ống thông, máy khí dung, máy hô hấp nhân tạo, máy hút ẩm, bình chứa nước, vòi nước máy, thậm chí trong cả một số loại dung dịch được pha chế hoặc bảo quản không tốt.
Chúng là loại vi khuẩn gây bệnh có điều kiện. Khi cơ thể bị suy giảm miễn dịch dễ mắc bệnh nhiễm trùng nội sinh hoặc ngoại sinh do trực khuẩn mủ xanh. Chúng từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hở. Tại chỗ xâm nhập chúng gây viêm có mủ (có thể có màu xanh) [18].
Trực khuẩn mủ xanh là vi khuẩn đề kháng tự nhiên với nhiều loại kháng sinh thông dụng. Thang Long University Library 9 - Các loại vi khuẩn khác Một số các vi khuẩn khác cũng là những căn nguyên gây NKBV. Các vi khuẩn này thay đổi tuỳ theo từng bệnh viện. Trực khuẩn lao cũng là một trong số các tác nhân gây NKBV, đường truyền của chúng chủ yếu qua đường hô hấp.
Legionella có thể gây viêm phổi rải rác hoặc thành dịch do bệnh nhân hít phải các giọt không khí bị nhiễm nước bẩn (nước điều hoà trong buồng bệnh, nước tắm. Các trực khuẩn Gram (+) kỵ khí như Clostridium spp, thường gây các bệnh hoại tử hoặc ngộ độc thức ăn.