ĐẶT VẤN ĐỀ Đường tiêu hóa trên bao gồm thực quản (ống dẫn thức ăn), dạ dày và tá tràng (phần đầu của ruột non). Đường tiêu hóa trên là nơi dễ phát triển một số bệnh lý có thể cần điều trị bằng phẫu thuật. Các phẫu thuật đường tiêu hóa trên chủ yếu gồm phẫu thuật cắt dạ dày, phẫu thuật khâu lỗ thủng dạ dày, phẫu thuật mở thông dạ dày, phẫu thuật cắt thực quản. Với tiến bộ của khoa học kĩ thuật, ngoài phương pháp mổ mở, hiện tại ở Bệnh viện đa khoa Hà Đông và hệ thống các bệnh viện trên toàn quốc còn phát triển phương pháp mổ nội soi.
Trên thế giới, phẫu thuật tiêu hóa trên là phẫu thuật nặng nề dù ngày càng có nhiều tiến bộ nhưng tỷ lệ biến chứng nặng và tử vong sau mổ vẫn cao từ 17,9-40,1% với phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư [3], [60]. Theo nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Hạnh năm 2020 về kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật dạ dày, đại tràng, và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang người bệnh phẫu thuật tiêu hóa thì tỷ lệ nhiễm khuẩn rất cao 23%, viêm phổi 11,5%, nhiễm khuẩn tiết niệu 3,4%, chảy máu 1,7 % [12] Sự thành công của cuộc mổ tùy thuộc phần lớn vào sự chăm sóc sau mổ. Giai đoạn sau mổ là giai đoạn có nhiều rối loạn về sinh lý, bao gồm: các biến chứng về hô hấp, tuần hoàn, kích thích, đau, rối loạn chức năng thận, rối loạn đông máu, hạ nhiệt độ… do gây mê hoặc do phẫu thuật. Ngoài ra ở giai đoạn này còn có thể xảy ra các biến chứng sớm hoặc các tai biến sau mổ.
Nghiên cứu của Dindo cho thấy 16,4% người bệnh có từ 1 biến chứng sau mổ trở lên [2]. Bởi vậy, chăm sóc người bệnh sau mổ là công việc rất quan trọng nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các rối loạn sau mổ, chủ động ngăn ngừa và phát hiện kịp thời các tai biến và biến chứng sớm sau mổ để có thái độ xử trí đúng và kịp thời góp phần vào thành công cuộc mổ [3]. Chưa có nhiều nghiên 2 cứu trong nước về kết quả chăm sóc sau mổ tiêu hóa trên, tuy nhiên theo nghiên cứu của Đặng Duy Quang tại Bệnh viện trung ương Huế cho thấy nhu cầu chăm sóc người bệnh sau mổ là rất lớn. Bao gồm nhu cầu giảm đau 91,9%, nhu cầu biết về bệnh tật 91,4%, phòng ngừa nhiễm trùng 89,8%, hỗ trợ về tư thế, vận động và tập luyện 68,3%, biết chế độ ăn phù hợp với bệnh 88,3% [7].
Khoa ngoại Tiêu hóa - Bệnh viện đa khoa Hà Đông mỗi năm thực hiện phẫu thuật khoảng 1400 ca, với số lượng phẫu thuật lớn như vậy nhưng cũng chưa có một khảo sát, nghiên cứu nào đánh giá về công tác chăm sóc người bệnh (NB) sau phẫu thuật tiêu hóa. Để có được những đánh giá thực tế về kết quả chăm sóc người bệnh (CSNB) sau phẫu thuật và góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác điều trị, CSNB tại BV chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật đường tiêu hóa trên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2021” với mục tiêu như sau. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh được phẫu thuật ở đường tiêu hóa trên tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2020 - 2021 2. Phân tích kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật đường tiêu hóa trên và một số yếu tố liên quan.
Thang Long University Library 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Đại cƣơng giải phẫu tiêu hóa: Đường tiêu hóa là một hệ thống cơ quan chịu trách nhiệm tiêu hóa thức ăn, hấp thu chất dinh dưỡng và bài tiết chất cặn bã. Đường tiêu hóa được chia thành hai phần là đường tiêu hóa trên và đường tiêu hóa dưới : Đường tiêu hóa trên gồm miệng, thực quản, dạ dày và một phần tá tràng. Đường tiêu hóa dưới gồm ruột non (tá tràng, hỗng tràng, hồi tràng) và ruột già (manh tràng, đại tràng, trực tràng, hậu môn) [11].
Giải phẫu thƣc quản: 1. Giới hạn, phân đoạn và kích thước Thực quản là một ống cơ nối hầu với dạ dày, dài khoảng 25 cm. Đường đi của thực quản đươc chia làm ba phần: Cổ, ngực và bụng [11]. Liên quan: Phần cổ: Nằm sau khí quản, thần kinh thanh quản quặt ngược nằm trong rãnh giữa thực quản và khí quản.
Sau thực quản là cột sống, cơ dài cổ và lá trước sống của mạc cổ. Hai bên liên quan với động mạch cảnh chung và phần sau thùy bên tuyến giáp. Phần ngực: Ở trước từ trên xuống liên quan với khí quản, phế quản chính trái và ngoại tâm mạc. Ở phía sau, lúc đầu thực quản ở trước cột sống ngực nhưng ở dưới mức đốt sống ngực bốn thì có ba thành phần ngăn cách thực quản với cột sống: Tĩnh mạch đơn ở bên phải, ống ngực ở giữa, động mạch chủ ngực bên trái; các động mạch gian sườn sau ở bên phải và phần tận cùng của các tĩnh mạch bán đơn và bán đơn phụ.
Bên trái, liên quan với cung động mạch chủ, động mạch dưới đòn trái, phần trên ống ngực, thần kinh thanh quản quặt ngược trái và màng phổi trung thất trái. Bờ phải, liên quan với màng phổi trung thất phải và cung tĩnh mạch đơn. 4 Phần bụng: dài độ 2 cm, cong sang trái và được phúc mạc phủ ở mặt trước và bờ trái, liên tiếp với lỗ tâm vị của dạ dày. Mặt trước ấn vào thùy trái của gan tạo một rãnh là ấn thực quản, mặt sau tiếp xúc với trụ trái cơ hoành; bờ phải liên tiếp với bờ cong bé, bờ trái ngăn cách với đáy vị bằng khuyết tâm vị.
Dây X trước nằm trước thực quản, dây thần kinh X sau nằm sau thực quản [11]. Giải phẫu dạ dày: 1. Vị trí và hình thể ngoài: Dạ dày là phần giãn to nhất của ống tiêu hóa ở giữa thực quản và ruột non. Vị trí ở vùng thượng vị, rốn và hạ sườn trái của bụng.
Dung tích của dạ dày khoảng 30 ml ở trẻ sơ sinh và 1000 ml ở tuổi dậy thì và 1500 ml ở tuổi trưởng thành. Dạ dày rỗng có hình chữ J với hai thành trước và sau, hai bờ cong bé và lớn, hai đầu là tâm vị ở trên và môn vị ở dưới. Các phần của dạ dày kể từ trên xuống dưới là tâm vị, đáy vị, thân vị và phần môn vị 1. Liên quan các thành dạ dày: Ở trên bờ sườn, thành trước dạ dày tiếp xúc cơ hoành, thùy gan trái.
Phần dưới bờ sườn thành trước dạ dày nằm sau thành bụng trước và gan. Thành sau: dạ dày liên quan qua túi mạc nối với cơ hoành, tuyến thượng thận trái, phần trên thận trái, động mạch tỳ, mặt trước tụy, góc đại tràng trái và mạc treo đại tràng ngang. Qua mạc nối lớn và mạc treo đại tràng ngang, dạ dày liên quan với góc tá hỗng tràng và ruột non [11]. Giải phẫu tá tràng: 1.
Vị trí: Tá tràng đi từ môn vị (Ngang sườn phải đốt sống thắt lưng thứ nhất) tới góc tá hỗng tràng ở ngang sườn trái đốt thắt lưng II. Tá tràng là nơi đặc biệt quan trọng vì là nơi mà ống mật và ống tụy đổ vào. Thang Long University Library 5 1. Hình thể ngoài và liên quan: Tá tràng uốn cong hình chữ C hướng sang trái và ôm quanh đầu tụy.
Nó đi theo một con đường gấp khúc gồm bốn phần: Phần trên, phần xuống, phần ngang, phần lên. Phần trên: Liên quan ở trước và trên với thùy vuông của gan và túi mật, ở sau với động mạch vị - tá tràng, ống mật chủ và tĩnh mạch cửa, và ở sau dưới với đầu tụy. Phần xuống: Chạy xuống bên phải đầu tụy, dọc theo bờ phải các thân đốt sống thắt lưng I-III. Ở trước, liên quan với thùy phải của gan, bị bắt chéo bởi đại tràng ngang và dính với đại tràng ngang bằng mô liên kết.
Mặt sau của nó dính với phần trong mặt trước thận phải. Phần ngang: Dài khoảng 10 cm, chạy ngang từ phải sang trái ở dưới dầu tụy, bắt chéo trước tĩnh mạch chủ dưới, thân đốt sống III và động mạch chủ bụng. Mặt trước của phần ngang bị bắt chéo bởi các mạch mạc treo tràng trên và rễ mạc treo ruột non. Phần lên: dài khoảng 2,5 cm, chạy dọc bờ trái động mạch chủ bụng và tận cùng tại góc tá – hỗng tràng ở ngang bờ trên đốt sống thắt lưng II [11].
Một số bệnh lý ngoại khoa thƣờng gặp ở đƣờng tiêu hóa trên: 1. Ung thư thực quản: 1. Triệu chứng lâm sàng : Khó nuốt, giảm cân mà không giải thích được, đau ngực, mệt mỏi Ung thư thực quản sớm thường không gây ra dấu hiệu hoặc triệu chứng [10]. Chẩn đoán : Nội soi có sinh thiết Sau đó chụp CT và siêu âm nội soi [10] 1.
Điều trị : Phẫu thuật cắt bỏ, thường kết hợp với hóa trị và xạ trị Quyết định điều trị ung thư thực quản phụ thuộc vào giai đoạn, kích thước, vị trí khối u và mong muốn của người bệnh. Các phương pháp phẫu thuật Phẫu thuật Lewis: Mở ngực, bụng, miệng nối ở lồng ngực Phẫu thuật Mc Keown: Mở ngực, bụng, cổ, miệng nối ở cổ Mở thông dạ dày nuôi ăn: Giai đoạn ung thư muộn. Ung thư dạ dày: Nguyên nhân của ung thư dạ dày là đa dạng, nhưng Helicobacter pylori đóng một vai trò quan trọng. Triệu chứng: Triệu chứng bao gồm cảm giác no, chướng bụng, và xuất huyết nhưng có xu hướng xảy ra muộn.
Chẩn đoán: Chẩn đoán bằng nội soi, tiếp theo là chụp CT và siêu âm nội soi để phân giai đoạn bệnh. Điều trị: Điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt dạ dày toàn phần hoặc bán phần; hóa trị liệu có thể được có đáp ứng tạm thời. Tiên lượng sống thêm khá nghèo nàn ngoại trừ người bệnh có tổn thương khu trú [10]. Thủng dạ dày, tá tràng: 1.
Triệu chứng: Sốc có thể gặp trong khoảng 30% trường hợp. Sốc là do đau nhất là lúc mới thủng. Sốc có thể thoáng qua hoặc kéo dài đến một giờ, sau đó mạch, huyết áp sẽ trở lại bình thường. Đau đột ngột, dữ dội là dấu hiệu chủ yếu.
Nôn: Không phải là dấu hiệu thường gặp. Bí trung đại tiện: Không có trong những giờ đầu. Nhìn: Bụng cứng, ít hoặc không di động. Bụng cứng như gỗ, co cứng thành bụng là một triệu chứng bao giờ cũng có (nhưng mức độ khác nhau) và có giá trị bậc nhất trong chẩn đoán.
Thang Long University Library 7 Gõ: Vùng đục trước gan mất; gõ đục vùng thấp hai bên mạn sườn và hố chậu. Thăm trực tràng: Đau túi cùng Douglas.