Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật lấy sỏi thận qua da trên thận đã mổ mở lấy sỏi" do nghiên cứu sinh Trương Văn Cẩn thực hiện tại Đại học Huế – Trường Đại học Y Dược Huế năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Đình Khánh. Công trình thuộc chuyên ngành Ngoại khoa (Mã số: 9 72 01 04).

Sỏi tiết niệu là bệnh lý phổ biến trong ngoại khoa tiết niệu, trong đó sỏi thận chiếm đa số. Tại Việt Nam, sỏi thận chiếm khoảng 40% các trường hợp mắc bệnh đường tiết niệu, thường có hình thái phức tạp, độ cứng cao và bệnh nhân thường đến khám ở giai đoạn muộn. Vấn đề sỏi thận tái phát sau can thiệp ngoại khoa có tỷ lệ rất cao. Theo y văn được tác giả dẫn chứng, Uribarri ghi nhận tỷ lệ tái phát sau 1 năm, 5 năm và 10 năm lần lượt là 14%, 32% và 52%; Rule ghi nhận tỷ lệ tái phát có triệu chứng sau 2 năm, 5 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt là 11%, 20%, 31% và 39%; nghiên cứu của Kosar và cộng sự chỉ ra tỷ lệ sỏi tái phát sau mổ mở lấy sỏi lên tới 31,8% (so với 13,9% sau tán sỏi ngoài cơ thể).

Phương pháp mổ mở kinh điển điều trị sỏi thận để lại nhiều hệ quả như đau nhiều sau mổ, sẹo mổ dài, nằm viện kéo dài và đặc biệt là tình trạng xơ dính tổ chức quanh thận làm mất cấu trúc giải phẫu bình thường. Khi sỏi tái phát hoặc sót sỏi sau mổ mở, việc chỉ định mổ mở lại gặp phải trở ngại lớn do phẫu tích vào bể thận cực kỳ khó khăn, nguy cơ tổn thương mạch máu và mất nhu mô thận cao. Phẫu thuật lấy sỏi thận qua da (Percutaneous Nephrolithotomy – PCNL) là kỹ thuật can thiệp ít xâm hại, đạt tỷ lệ sạch sỏi từ 80% đến 90%, ít đau và đảm bảo tính thẩm mỹ. Trên thận đã từng mổ mở, các tổ chức sẹo xơ dính lại trở thành yếu tố cố định thận, giúp đường hầm vào đài bể thận không bị xê dịch và dễ dàng tái lập đường vào nếu vỏ Amplatz bị tuột. Tuy nhiên, nhiều phẫu thuật viên vẫn e ngại nguy cơ chảy máu, thủng hệ thống đài bể thận hoặc khó tiếp cận sỏi. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tối ưu hóa kỹ thuật tạo đường hầm và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật lấy sỏi qua da trên thận có tiền sử mổ mở là yêu cầu cấp thiết.

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân được điều trị lấy sỏi thận qua da trên thận đã mổ mở lấy sỏi.
  2. Đánh giá kết quả sớm điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật lấy sỏi thận qua da trên thận đã mổ mở và nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật.
  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán sỏi thận trên thận đã có tiền sử mổ mở lấy sỏi cùng bên, được chỉ định và thực hiện phẫu thuật lấy sỏi thận qua da.
  • Phạm vi không gian: Khoa Ngoại Thận – Tiết niệu Bệnh viện Trung ương Huế và Khoa Ngoại Tiết niệu – Thần kinh Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập, phân tích và hoàn thành nghiệm thu năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả hệ thống hóa lịch sử phát triển của kỹ thuật lấy sỏi thận qua da và các công trình nghiên cứu can thiệp trên thận đã có sẹo mổ cũ:

  • Lịch sử can thiệp qua da: Trường hợp lấy sỏi qua da đầu tiên được Rupel và Brown công bố năm 1941 thông qua đường hầm dẫn lưu thận đã được thành lập từ lần mổ mở trước đó. Năm 1955, Goodwin thực hiện dẫn lưu thận qua da không có X-quang hỗ trợ. Đến năm 1976, Fernstrom và Johansson chính thức báo cáo kỹ thuật lấy sỏi thận qua da.
  • Các nghiên cứu quốc tế trên thận đã mổ mở: Basiri A. và cộng sự (2003) nghiên cứu so sánh 65 bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật mở với 117 bệnh nhân không có tiền sử mổ mở được điều trị PCNL, kết luận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ thành công, sạch sỏi và tai biến giữa hai nhóm. Margel D. và cộng sự (2005) cũng đưa ra kết luận tương tự về tính an toàn và hiệu quả của PCNL trên thận đã phẫu thuật trước đó. Lojanapiwat B. và cộng sự (2006) theo dõi 178 thận có sỏi trên thận đã mổ mở so sánh với 178 thận không có tiền sử mổ mở trong thời gian trung bình 8,5 năm; tỷ lệ sạch sỏi tương ứng là 80,3% và 82,6%, sỏi sót ≤ 4mm là 14,6% và 8,4%, thời gian phẫu thuật, thời gian nằm viện và biến chứng không có sự khác biệt.
  • Các công trình trong nước: Tác giả Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2003) và Nguyễn Vĩnh Bình (2010) đã công bố các nghiên cứu ban đầu về kỹ thuật lấy sỏi thận qua da và ứng dụng trên những trường hợp thận có can thiệp ngoại khoa trước đó tại Việt Nam.
  • Giải phẫu mạch máu và đường chọc dò: Sampaio FJB và cộng sự (2019) nghiên cứu giải phẫu đài bể thận và mạch máu, chứng minh chọc kim qua cổ đài cực trên có nguy cơ làm tổn thương động mạch phân thùy sau ở 57% trường hợp; chọc qua cổ đài giữa gây tổn thương động mạch ở 23%; chọc qua nhú thận vào đài nhỏ là đường an toàn nhất với tỷ lệ tổn thương tĩnh mạch dưới 8% và không ghi nhận tổn thương động mạch.
  • Hệ thống thang điểm đánh giá sỏi thận (NLSS): Luận án phân tích 3 hệ thống đánh giá độ phức tạp sỏi thận: Thang điểm S.T.O.N.E (Okhunov và cộng sự, 2013), Thang điểm Guy (GSS – Thomas K. và cộng sự, 2011) và Toán đồ CROES (Smith A. và cộng sự, 2013 trên 2806 bệnh nhân từ 96 trung tâm).
  • Vấn đề sỏi sót sau PCNL: Các nghiên cứu của Pearle (2008), Osman (2008), Ganpule (2020), Altunrende (2011) và Raman JD. (2016) được tổng hợp để làm rõ tỷ lệ sót sỏi khi kiểm tra bằng chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và vai trò của nội soi thận bằng ống soi mềm lần 2 (SLFN).

Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù phẫu thuật lấy sỏi qua da đã được chứng minh khả thi trên thận đã mổ mở, các dữ liệu lâm sàng chuyên biệt tại Việt Nam về đặc điểm giải phẫu sau mổ cũ, kỹ thuật chọc dò định vị bằng phương pháp tam giác dưới màn tăng sáng kết hợp nội soi niệu quản hỗ trợ, cùng mối liên quan giữa các thang điểm tiên lượng (S.T.O.N.E, GSS) với kết quả phẫu thuật trên đối tượng này vẫn chưa được khảo sát đầy đủ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết giải phẫu học, kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn và hệ thống phân loại tiên lượng trong tiết niệu:

  • Cơ sở giải phẫu ứng dụng: Thận xoay khoảng 25°–30°, mặt trước hướng ra ngoài. Trục mạch máu phân chia thành ngành trước và sau, tạo nên đường vô mạch Brodel ở mặt sau bên nhu mô thận. Cân Gerota bao bọc khoang quanh thận, lá trước dính vào cuống thận tạo hai khoang riêng biệt. Vùng an toàn nhất để tạo đường hầm vào đài bể thận là xuyên qua đỉnh nhú thận vào đài nhỏ, tránh trực tiếp đâm qua cổ đài hoặc đâm thẳng vào bể thận.
  • Khung phân tích thang điểm:
    • Thang điểm S.T.O.N.E: Đánh giá 5 biến số trên phim CLVT không cản quang: Kích thước sỏi (Stone size – S), Chiều dài đường hầm (Tract length – T: ≤100mm = 1 điểm, >100mm = 2 điểm), Tắc nghẽn ứ nước (Obstruction – O: độ 0-1 = 1 điểm, độ 2-3 = 2 điểm), Số lượng đài mang sỏi (Number of involved calices – N: 1-2 đài = 1 điểm, 3 đài = 2 điểm, sỏi san hô = 3 điểm), Mật độ sỏi (Essence of stone density – E: <950 HU = 1 điểm, ≥950 HU = 2 điểm).
    • Thang điểm GUY (GSS): Phân loại từ độ I đến độ IV dựa trên số lượng sỏi, vị trí đài bể thận và bất thường giải phẫu kèm theo.
    • Phân loại biến chứng: Sử dụng thang Clavien-Dindo để phân độ các tai biến và biến chứng sau mổ.
                 Thăm khám lâm sàng, Cận lâm sàng (CLVT, Xạ hình DTPA, X-quang)
                 Đánh giá độ phức tạp sỏi: Thang điểm S.T.O.N.E & GSS
                 Theo dõi sau mổ: Tai biến, biến chứng (Clavien-Dindo),
                 Thời gian rút dẫn lưu, Ngày nằm viện, Xạ hình thận DTPA,
                 Đánh giá tỷ lệ sạch sỏi (X-quang / CLVT)
  • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu kết hợp theo dõi can thiệp lâm sàng không đối chứng.
  • Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân có sỏi thận trên thận đã từng mổ mở lấy sỏi, có chỉ định can thiệp phẫu thuật lấy sỏi qua da.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có chống chỉ định của phẫu thuật lấy sỏi qua da như rối loạn đông máu toàn thân chưa kiểm soát, nhiễm khuẩn tiết niệu nặng chưa điều trị ổn định, hoặc dị dạng cột sống lồng ngực nặng không thể nằm sấp.
  • Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu: Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất; ghi nhận các biến số độc lập (tuổi, giới, BMI, số lần mổ cũ, vị trí sẹo mổ cũ, thời gian từ lần mổ cuối, phân loại sỏi, góc chọc dò, phương pháp tán sỏi) và biến số phụ thuộc (thời gian chọc dò, thời gian nong đường hầm, thời gian chiếu tia X, thời gian phẫu thuật, lượng máu mất/thay đổi Hb, biến chứng Clavien-Dindo, thời gian hậu phẫu, tỷ lệ sạch sỏi, chức năng thận trên xạ hình DTPA). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê y học (SPSS), sử dụng các kiểm định Chi-square, Fisher's exact test, t-test với mức ý nghĩa $p < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện cơ sở giải phẫu học của thận ứng dụng trong phẫu thuật lấy sỏi qua da, các đường tiếp cận giải phẫu và liên quan mạch máu đài bể thận, kỹ thuật tạo đường hầm dưới C-arm và siêu âm, hệ thống các thang điểm đánh giá sỏi thận, các tai biến – biến chứng thường gặp và vấn đề sỏi sót sau phẫu thuật.

  • Phân tích chi tiết đường đi của các nhánh động mạch phân thùy và đường vô mạch Brodel ở mặt sau bên, nhấn mạnh việc chọc kim qua đỉnh nhú thận vào đài nhỏ giúp hạn chế tổn thương mạch máu lớn.
  • Mô tả các kỹ thuật chọc dò dưới màn tăng sáng C-arm: kỹ thuật mắt bò (Bull's eye), phương pháp tam giác (Triangulation), kỹ thuật mắt bò cải biên dùng laser (Bilen, Ko), phương pháp tam giác cải biên cố định góc (Mues, Li X. dùng dụng cụ đo độ sâu theo nguyên lý Pytago, Hatipoglu).
  • Trình bày cấu trúc và tiêu chí của các hệ thống thang điểm S.T.O.N.E, GSS và Toán đồ CROES trong việc lượng hóa độ phức tạp của sỏi và dự báo khả năng sạch sỏi.
  • Tổng hợp các tai biến phẫu thuật: chảy máu trong và sau mổ (Kessaris: 1,4%, Turna: 0,6%), thủng hệ thống đài bể thận (Lee WJ: 7%), tổn thương màng phổi (~2%, tiêu chuẩn chẩn đoán dò thận – màng phổi bằng định lượng nồng độ creatinine dịch màng phổi so với huyết thanh), sốt sau mổ (2,8%–32,1%) và nhiễm khuẩn huyết (0,6%–1,5%).
  • Tổng kết tình trạng sót sỏi qua các nghiên cứu của Pearle (sót 80,5% trên CLVT ngày đầu), Osman (sót 62% sau 48 giờ), Raman JD. (sỏi sót > 2mm làm tăng nguy cơ phát triển sỏi gấp 7,87 lần và phân tích hiệu quả kinh tế của nội soi thận ống mềm lần 2).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu, thiết kế nghiên cứu và các bước kỹ thuật thực hiện trên nhóm bệnh nhân có tiền sử mổ mở lấy sỏi:

  • Xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân rõ ràng tại hai cơ sở phẫu thuật tiết niệu lớn tại Huế.
  • Quy trình chuẩn bị trước mổ: Đánh giá lâm sàng, xét nghiệm công thức máu, đông máu, chức năng thận, cấy nước tiểu; chụp X-quang hệ tiết niệu, siêu âm ổ bụng, chụp CLVT hệ tiết niệu (đo kích thước sỏi, chiều dài đường hầm từ da đến sỏi ở góc 45°, mức độ ứ nước, số đài mang sỏi, mật độ HU) và xạ hình thận bằng DTPA để đánh giá chức năng lọc của thận can thiệp.
  • Quy trình phẫu thuật: Đặt thông niệu quản ngược dòng ở tư thế sản khoa để bơm thuốc cản quang hiện hình đài bể thận, chuyển bệnh nhân sang tư thế nằm sấp có độn gối; chọc dò vào đài thận theo phương pháp tam giác sử dụng kim định vị kết hợp định hướng trên phim CLVT và C-arm; sử dụng ống soi niệu quản hỗ trợ luồn dây dẫn (guidewire) trong các trường hợp đài bể thận xơ dính khó khăn; nong đường hầm bằng bộ nong đồng trục Amplatz lên cỡ 28–30Fr; tán sỏi bằng năng lượng Laser Holmium, khí nén hoặc siêu âm; kiểm tra sạch sỏi bằng soi đài bể thận và C-arm; đặt ống thông JJ xuôi dòng và ống dẫn lưu thận qua đường hầm.
  • Xác định cụ thể các biến số độc lập, biến số phụ thuộc, tiêu chuẩn đánh giá kết quả sớm (tỷ lệ sạch sỏi, diễn biến biến chứng theo Clavien-Dindo, thời gian rút dẫn lưu, ngày điều trị sau mổ, thay đổi Hb và xạ hình DTPA) cùng các nguyên tắc đạo đức y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu được từ nghiên cứu lâm sàng, bao gồm đặc điểm bệnh nhân, kết quả kỹ thuật, kết quả điều trị và phân tích các yếu tố liên quan:

  • Đặc điểm chung và tiền sử: Thống kê phân bố độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, chỉ số BMI; phân loại tiền sử mổ mở lấy sỏi (số lần mổ 1 lần hoặc ≥ 2 lần, thời gian từ lần mổ cuối cùng, vị trí sẹo mổ cũ vùng thắt lưng hay dưới sườn).
  • Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Triệu chứng đau thắt lưng tại thận phẫu thuật; độ ứ nước đài bể thận trên siêu âm; diện tích bề mặt sỏi, phân loại hình thái sỏi trên X-quang/CLVT; phân loại sỏi theo thang điểm S.T.O.N.E và thang điểm GSS.
  • Đặc điểm kỹ thuật can thiệp: Vị trí chọc dò vào đài dưới, đài giữa hoặc đài trên; góc chọc dò; thời gian thực hiện chọc dò thận; thời gian nong tạo đường hầm; tỷ lệ áp dụng ống soi niệu quản hỗ trợ đưa dây dẫn; các nguồn năng lượng tán sỏi được sử dụng; thời gian chiếu tia X và tổng thời gian phẫu thuật.
  • Kết quả điều trị sớm: Tỷ lệ sạch sỏi sau phẫu thuật; tỷ lệ và phân loại biến chứng sau mổ theo thang Clavien-Dindo (chảy máu, sốt, tổn thương đài bể thận); thời gian rút dẫn lưu thận và tỷ lệ cặp dẫn lưu ngay sau mổ; thời gian hậu phẫu; biến thiên chỉ số hồng cầu và hemoglobin trước – sau mổ; biến đổi chức năng thận can thiệp qua xạ hình DTPA.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng:
    • Mối liên quan giữa số lần mổ mở cũ và vị trí sẹo mổ với thời gian chọc dò, thời gian nong đường hầm và tỷ lệ sạch sỏi.
    • Mối liên quan giữa vị trí và góc chọc dò đài thận với tỷ lệ sạch sỏi.
    • Ảnh hưởng của kỹ thuật dùng ống soi niệu quản hỗ trợ nong đường hầm đối với thời gian chiếu tia X.
    • Liên quan giữa phân loại hình thái sỏi, phương pháp tán sỏi với thời gian phẫu thuật và tỷ lệ sạch sỏi.
    • Mối tương quan có ý nghĩa giữa điểm số S.T.O.N.E và phân độ GSS với thời gian phẫu thuật, thời gian chiếu tia X và tỷ lệ sạch sỏi sau mổ.
Nhóm chỉ số phân tích Biến số khảo sát chính Phương tiện / Thang đo
Tiền sử mổ mở Số lần mổ mở cũ, thời gian từ lần mổ cuối, vị trí vết mổ cũ Bệnh án ngoại khoa, khám lâm sàng
Độ phức tạp sỏi Kích thước, chiều dài đường hầm, độ ứ nước, số đài mang sỏi, mật độ HU Thang điểm S.T.O.N.E, Thang điểm GUY (GSS), CLVT
Thông số phẫu thuật Vị trí chọc đài (trên/giữa/dưới), góc chọc, ống soi NQ hỗ trợ, loại năng lượng Màn tăng sáng C-arm, Đồng hồ bấm giờ, Máy tán sỏi
Kết quả điều trị Thời gian chọc, nong, chiếu tia, mổ; Tỷ lệ sạch sỏi; Rút dẫn lưu; Nằm viện X-quang, CLVT, Thời gian thực tế
An toàn & Chức năng Biến chứng sau mổ, Thay đổi Hồng cầu & Hb, Độ lọc cầu thận Phân loại Clavien-Dindo, Xét nghiệm máu, Xạ hình DTPA

Chương 4: Bàn luận

Tác giả thảo luận sâu sắc về các kết quả đạt được trong sự đối sánh với các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  • Đặc điểm dịch tễ và hình thái học: So sánh tuổi, giới, BMI, số lần mổ mở trước đó và diện tích bề mặt sỏi với các nghiên cứu của Basiri, Margel, Lojanapiwat, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng và Nguyễn Vĩnh Bình, khẳng định tính tương đồng và đại diện của mẫu nghiên cứu.
  • Bàn luận về kỹ thuật chọc dò và tạo đường hầm: Phân tích chi tiết tính ưu việt của phương pháp tam giác sử dụng kim định vị dựa trên phim CLVT kết hợp C-arm. Giải thích hiện tượng xơ dính quanh thận do mổ mở cũ giúp thận nằm cố định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nong và giữ vững vỏ Amplatz, hạn chế nguy cơ trượt đường hầm ra ngoài khoang sau phúc mạc. Đánh giá vai trò của việc sử dụng ống soi niệu quản ngược dòng hỗ trợ đặt guidewire giúp vượt qua các đoạn cổ đài gập góc, biến dạng sau mổ cũ một cách an toàn và giảm thời gian phơi nhiễm tia X.
  • Bàn luận về kết quả sạch sỏi, tai biến và chức năng thận: Đối chiếu tỷ lệ sạch sỏi, thời gian phẫu thuật và thời gian nằm viện với các tác giả khác. Phân tích nguyên nhân và các biện pháp kiểm soát biến chứng chảy máu, sốt sau mổ theo thang Clavien-Dindo; chứng minh qua xạ hình thận DTPA rằng phẫu thuật lấy sỏi qua da không làm suy giảm chức năng bài tiết của thận đã qua mổ mở.
  • Giá trị của các thang điểm tiên lượng: Khẳng định giá trị thực tiễn của thang điểm S.T.O.N.E và GSS trong việc dự đoán độ khó, thời gian phẫu thuật và khả năng sạch sỏi trên nhóm bệnh nhân thận đã có sẹo mổ mở.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại các đóng góp cụ thể về mặt khoa học lý luận và thực hành lâm sàng ngoại tiết niệu:

  • Về mặt lý luận và khoa học:
    • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có hệ thống tại Việt Nam về đặc điểm giải phẫu bệnh học, lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng phẫu thuật lấy sỏi thận qua da trên thận đã có tiền sử mổ mở lấy sỏi.
    • Làm sáng tỏ đặc điểm cơ học của tổ chức xơ dính quanh thận sau mổ mở: tình trạng xơ dính không phải là rào cản kỹ thuật tuyệt đối mà còn là yếu tố hỗ trợ cố định thận, giúp đường hầm qua da ổn định và dễ dàng tìm lại đài bể thận khi xảy ra sự cố tuột vỏ Amplatz.
    • Xác lập giá trị ứng dụng và độ tin cậy của các hệ thống thang điểm tiên lượng S.T.O.N.E và GUY (GSS) trong việc dự báo độ khó kỹ thuật, thời gian phẫu thuật, thời gian chiếu tia X và tỷ lệ sạch sỏi trên nhóm thận đã có can thiệp ngoại khoa trước đó.
  • Về mặt thực tiễn và kỹ thuật điều trị:
    • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật chọc dò đài thận theo phương pháp tam giác có sử dụng kim định vị dựa trên đối chiếu hình ảnh chụp CLVT và màn tăng sáng C-arm, tăng cường tính chính xác khi tiếp cận sỏi.
    • Đề xuất và ứng dụng giải pháp kỹ thuật sử dụng ống soi niệu quản ngược dòng hỗ trợ đưa dây dẫn (guidewire) vào đài bể thận trong những trường hợp giải phẫu đài bể thận bị xơ sẹo, biến dạng sau mổ mở cũ, giúp rút ngắn thời gian chiếu tia X và nâng cao tính an toàn khi nong đường hầm.
    • Chứng minh phẫu thuật lấy sỏi thận qua da trên thận đã mổ mở đạt tỷ lệ sạch sỏi cao, ít tai biến nghiêm trọng theo phân loại Clavien-Dindo, bảo tồn chức năng thận bài tiết trên xạ hình DTPA, rút ngắn thời gian hậu phẫu và thời gian hồi phục của người bệnh so với chỉ định mổ mở lại.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
    • Khuyến cáo ứng dụng phẫu thuật lấy sỏi thận qua da như phương pháp lựa chọn ưu tiên thay thế mổ mở lại cho các trường hợp sỏi thận tái phát trên thận đã mổ mở lấy sỏi tại các cơ sở ngoại niệu có trang bị màn tăng sáng C-arm.
    • Chỉ định chụp cắt lớp vi tính trước mổ bắt buộc để đánh giá toàn diện hình thái đài bể thận, khoảng cách da – sỏi, mật độ HU và tính toán điểm số S.T.O.N.E / GSS nhằm lập kế hoạch phẫu thuật tối ưu.
    • Phối hợp linh hoạt nội soi niệu quản hỗ trợ khi quá trình chọc dò và đặt dây dẫn qua da gặp trở ngại giải phẫu do sẹo xơ cũ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Nghiên cứu tập trung đánh giá kết quả điều trị sớm và trung hạn trong thời gian nằm viện và tái khám gần; chưa theo dõi dọc dài hạn (trên 3–5 năm) để đánh giá toàn diện tỷ lệ tái phát sỏi xa trên nhóm đối tượng thận đã mổ mở.
    • Tiêu chuẩn đánh giá sạch sỏi sau phẫu thuật chủ yếu dựa trên phim X-quang hệ tiết niệu kết hợp siêu âm và chỉ chụp CLVT ở các ca nghi ngờ hoặc phức tạp, chưa thực hiện chụp CLVT thường quy 100% cho toàn bộ bệnh nhân sau mổ do điều kiện chi phí y tế và hạn chế phơi nhiễm tia xạ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục mở rộng theo dõi dài hạn để khảo sát tỷ lệ tái phát sỏi sau 1 năm, 3 năm, 5 năm và đánh giá sự thay đổi chức năng thận lâu dài sau can thiệp lấy sỏi qua da trên thận có sẹo mổ cũ.
    • Triển khai nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật cải tiến như lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ (Mini-PCNL), siêu nhỏ (Micro-PCNL) hoặc phẫu thuật phối hợp nội soi thận qua da và nội soi niệu quản thận ngược dòng bằng ống soi mềm (ECIRS) trên thận đã mổ mở phức tạp.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng trong ngành y tế:

  • Đối với bác sĩ phẫu thuật Tiết niệu và học viên chuyên khoa: Luận án cung cấp hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật chọc dò theo phương pháp tam giác, mẹo phối hợp nội soi niệu quản hỗ trợ đặt dây dẫn khi gặp đài bể thận biến dạng, cùng chiến lược lựa chọn đài chọc dò an toàn qua nhú thận để tránh biến chứng chảy máu nặng.
  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng ngoại khoa, quy trình thu thập và xử lý biến số phẫu thuật, cách thức ứng dụng các thang điểm hình ảnh học (S.T.O.N.E, GSS) và phương pháp đánh giá chức năng thận khách quan bằng xạ hình DTPA.
  • Đối với các nhà quản lý y tế và lãnh đạo khoa lâm sàng: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng phác đồ điều trị sỏi thận tái phát, giảm thiểu tỷ lệ mổ mở lại, rút ngắn ngày nằm viện và tối ưu hóa chi phí điều trị tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tình trạng sẹo xơ dính quanh thận do mổ mở cũ lại tạo thuận lợi cho phẫu thuật lấy sỏi thận qua da?

Tình trạng xơ dính tổ chức quanh thận sau mổ mở giúp thận nằm cố định, không bị di động theo nhịp thở nhiều như thận bình thường. Nhờ đó, đường hầm tạo ra từ da vào đài bể thận ít bị xê dịch hoặc biến dạng. Trong trường hợp vỏ Amplatz bị tuột ra ngoài trong lúc thao tác, phẫu thuật viên có thể dễ dàng định vị và tái lập lại đường vào đài bể thận qua đường hầm xơ hóa có sẵn.

2. Theo các nghiên cứu giải phẫu được trích dẫn, vị trí chọc kim vào đài thận nào là an toàn nhất để tránh tổn thương mạch máu lớn?

Theo nghiên cứu của Sampaio FJB và cộng sự (2019), chọc kim xuyên qua đỉnh nhú thận vào đài nhỏ là đường tiếp cận an toàn nhất, với tỷ lệ tổn thương tĩnh mạch dưới 8% và không ghi nhận tổn thương động mạch. Ngược lại, chọc qua cổ đài cực trên gây tổn thương động mạch phân thùy sau ở 57% trường hợp, chọc qua cổ đài giữa gây tổn thương động mạch ở 23%, và chọc trực tiếp vào bể thận có nguy cơ tổn thương các mạch máu lớn sau bể thận.

3. Thang điểm S.T.O.N.E gồm những yếu tố thành phần nào và được tính toán trên phương tiện chẩn đoán nào?

Thang điểm S.T.O.N.E được tính toán dựa trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CLVT) không tiêm thuốc cản quang trước mổ, bao gồm 5 yếu tố độc lập:

  1. S (Stone size): Kích thước bề mặt sỏi (chiều dài × chiều rộng).
  2. T (Tract length): Chiều dài đường hầm từ tâm sỏi đến bề mặt da ở góc 45° (≤100mm: 1 điểm; >100mm: 2 điểm).
  3. O (Obstruction): Tình trạng ứ nước thận (độ 0–1: 1 điểm; độ 2–3: 2 điểm).
  4. N (Number of involved calices): Số lượng đài thận mang sỏi (1–2 đài: 1 điểm; 3 đài: 2 điểm; sỏi san hô: 3 điểm).
  5. E (Essence of stone density): Mật độ sỏi tính bằng đơn vị Hounsfield (<950 HU: 1 điểm; ≥950 HU: 2 điểm).

4. Việc sử dụng ống soi niệu quản hỗ trợ trong phẫu thuật lấy sỏi thận qua da có vai trò gì?

Ống soi niệu quản được đưa ngược dòng từ bàng quang lên niệu quản – đài bể thận nhằm hỗ trợ quan sát trực tiếp, kiểm soát và dẫn hướng cho việc đưa dây dẫn (guidewire) an toàn vào bể thận trong các trường hợp đài bể thận bị xơ sẹo, biến dạng hoặc gập góc do lần mổ mở trước đó. Kỹ thuật này giúp giảm thời gian chiếu tia X của màn tăng sáng C-arm và hạn chế tổn thương xuyên thành hệ thống đài bể thận.

5. Phương pháp cận lâm sàng nào được sử dụng trong luận án để đánh giá chức năng lọc của thận can thiệp trước và sau phẫu thuật?

Luận án sử dụng phương pháp xạ hình thận với chất đánh dấu phóng xạ DTPA (Diethylenetriaminepentaacetic acid) để đo lường và so sánh chức năng bài tiết, mức độ lọc của đơn vị thận phẫu thuật trước và sau khi thực hiện can thiệp lấy sỏi qua da.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Trương Văn Cẩn đã nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về phương pháp phẫu thuật lấy sỏi thận qua da trên đối tượng bệnh nhân có tiền sử mổ mở lấy sỏi. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi, an toàn và hiệu quả sạch sỏi của kỹ thuật PCNL, đồng thời chứng minh tình trạng xơ dính quanh thận không cản trở mà còn hỗ trợ cố định đường hầm can thiệp. Các giải pháp kỹ thuật như định vị tam giác dưới C-arm, phối hợp nội soi niệu quản hỗ trợ và ứng dụng các thang điểm tiên lượng S.T.O.N.E, GSS mang lại giá trị thực tiễn lớn trong phẫu thuật tiết niệu. Đây là công trình học thuật có giá trị tham khảo vững chắc, góp phần thúc đẩy chỉ định can thiệp ít xâm lấn thay thế mổ mở lại trong điều trị sỏi thận tái phát tại Việt Nam.