Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về ung thư đại trực tràng. Ung thư phát sinh từ sự biến đổi của các tế bào bình thường thành các tế bào bất thường trong một quá trình nhiều tầng thường tiến triển từ một tổn thương tiền ung thư đến một khối u ác tính đặc trưng bởi sự tăng trưởng của các tế bào bất thường. Sau đó có thể xâm nhập các bộ phận liền kề của cơ thể và hoặc lan sang các cơ quan khác, gọi là di căn, di căn là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư.
Ung thư đại trực tràng là loại ung thư xảy ra ở phần cuối của ống tiêu hoá (đại tràng và trực tràng) [7]. Ngay cả khi chẩn đoán và điều trị sớm để loại bỏ hoàn toàn, bệnh vẫn có thể xuất hiện lại [51]. Cơ chế sinh ung thư đại trực tràng Cơ chế bệnh sinh hiện nay đã được làm sáng tỏ qua cơ chế gen sinh ung thư. Quá trình sinh bệnh của ung thư đại trực tràng trải qua nhiều giai đoạn, liên quan đến tổn thương nhiều gen gây ung thư do tác động của các yếu tố gây ung thư.
Những nghiên cứu còn cho thấy, gen hMSH2 và hMLH1 là những gen kiểm soát sửa chữa AND, khi bị đột biến đã làm các gen sinh ung thư bị mất bền vững, trở nên dễ bị đột biến khi có tác động của các yếu tố gây ung thư [7], [41]. Các yếu tố nguy cơ gây ung thư đại trực tràng Nam giới có khả năng mắc ung thư trực tràng cao hơn phụ nữ khoảng 1,5 lần [54]. Tuổi càng cao tỉ lệ mắc bệnh càng tăng. Một nghiên đánh giá tổng quan hệ thống tại Mỹ cho thấy người lớn trên 65 tuổi có khả năng mắc ung thư trực tràng cao gấp ba lần so với những người từ 50 đến 64 tuổi và cao gấp ba mươi lần so với những người từ 25 đến 49 tuổi.
Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học gần đây đã ghi nhận giảm tỷ lệ mắc bệnh này ở những người trên 50 tuổi và gia tăng ở những người dưới 50 tuổi, điều này có thể do lối sống ít vận động [56]. Những người mắc bệnh lý viêm ruột (IBD), IBD là tình trạng viêm ruột trong thời gian dài, bao gồm cả viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn, nguy cơ ung thư đại trực tràng sẽ tăng lên. Người có tiền sử mắc polyp tuyến sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng, nhất là polyp có kích thước lớn hoặc có đa polyp [55]. Người mắc bệnh lý béo phì, đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư đại tràng [25], [50].
3 Tiền sử gia đình (bố mẹ hoặc anh, em ruột) bị ung thư đại trực tràng, nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2-4 lần người bình thường [68]. Chế độ ăn uống hàng ngày: thức ăn chứa nhiều mỡ, nhất là mỡ động vật làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư đại - trực tràng. Ngoài ra hàm lượng chất bảo quản thực vật có trong rau, củ hay như chất tăng trọng, chất tạo nạc trong thịt lợn, các chất kích thích khiến nhiều người mắc ung [63]. Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không sử dụng thuốc lá.
Hầu như những người mắc ung thư đại tràng đều sử dụng thuốc lá, nhất là đối với nam giới. Vì vậy thuốc lá có thể xem là nguyên nhân gây nên bệnh ung thư đại tràng. Ngoài ra hút thuốc lá còn làm tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư khác [22]. Lạm dụng rượu, bia, chất kích thích cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư đại tràng [29].
Đặc điểm lâm sàng của người bệnh ung thư đại trực tràng Rối loạn tiêu hoá: Quan trọng nhất là thay đổi thói quen đại tiện, tiểu tiện, rối loạn tiêu hoá (phân lỏng, phân nát, táo bón). Đây là những triệu chứng sớm báo động ung thư đại trực tràng. Các triệu chứng khác tuỳ theo vị trí tổn thương [9]. Đau bụng: Là triệu chứng thường gặp, mức độ đau từ đau nhẹ, đau âm ỉ đến đau nặng, đau thành cơn dữ dội.
Vị trí đau tương ứng với từng vùng ung thư. Cơn đau kéo dài thất thường, càng về sau cơn đau càng kéo dài hơn, cơn đau có thể mất đi đột ngột, xuất hiện đột ngột. Đau khối u đại tràng phải có đau vùng thượng vị, u đại tràng trái đau kiểu tắc ruột, u đại tràng sigma đau hạ vị kèm đi ngoài nhiều lần. Đau bụng có thể xảy ra ở tất cả các vị trí của đại tràng do khối u phát triển to, xảy ra thường xuyên hơn ở người bệnh ung thư đại trực tràng giai đoạn muộn hoặc di căn phúc mạc.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung đau bụng gặp tới 85,85% các trường hợp ung thư đại trực tràng [19]. Đại tiện ra máu: Đại tiện ra máu là bệnh nhân đi ngoài có máu trong phân, máu có màu đỏ hoặc đỏ sẫm. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung cho thấy biểu hiện này chiếm 63,41% [19]. Ngoài ra người bệnh có thể có các biểu hiện khác như thiếu máu, sụt cân, mệt mỏi… 1.
Các giai đoạn bệnh và phương pháp điều trị ung thư đại trực tràng 1. Các giai đoạn ung thư đại trực tràng 4 Xếp hạng theo Dukes có nhiều hạn chế do không đánh giá đủ mức độ, số lượng hạch di căn. Hiện nay, các nhà ung thư học áp dụng hệ thống xếp giai đoạn TNM của AJCC/UICC để thống nhất trong việc điều trị, trao đổi thông tin. Xếp hạng lâm sàng và xếp giai đoạn theo AJCC – 2017 [6] Khối u nguyên phát (T): T: U nguyên phát.
Tx: Chưa đánh giá được khối u nguyên phát. To: Không có bằng chứng của khối u nguyên phát. Tis: Ung thư tại chỗ (trong lớp niêm mạc). T1: U xâm lấn lớp dưới niêm.
T2: U xâm lấn lớp cơ. T3: U xâm lấn qua khỏi lớp cơ đến dưới thanh mạc. T4a: U xâm lấn vượt qua khỏi thanh mạc. T4b: U xâm lấn đến cơ quan lân cận.
Hạch bạch huyết khu vực (N): N: Hạch vùng. Nx: Chưa đánh giá được hạch vùng. No: Chưa có di căn hạch vùng. N1: Di căn 1 - 3 hạch tại vùng.
N1a: Di căn 1 hạch vùng. N1b: Di căn 2 - 3 hạch vùng. N1c: Có nhân vệ tinh (Tumor Satellites/Tumor Deposits). N2: Di căn từ 4 hạch trở lên.
Di căn xa (M) M: Di căn xa Mx: Không xác định di căn xa. Mo: Chưa có di căn xa. M1a: Di căn khu trú tại 1 cơ quan. M1b: Di căn từ 2 cơ quan.
5 M1c: Di căn phúc mạc có hoặc không kèm theo di căn tạng. Phân loại giai đoạn theo Dukes cải tiến Dukes A: Khối u còn giới hạn ở lớp niêm mạc hoặc chạm tới lớp cơ thành ĐTT. Dukes B: Khối u vượt qua lớp niêm mạc vào tới lớp cơ nhưng chưa di căn hạch. Dukes C: Ung thư đã lan đến ít nhất một hạch bạch huyết khu vực.
Dukes D: Ung thư đã lan đến một cơ quan khác trong cơ thể. Phân chia giai đoạn bệnh ung thư đại trực tràng của AJCC – 2017 Giai đoạn TNM Dukes Giai đoạn 0 Tis No Mo A Giai đoạn I T1-2 No Mo Giai đoạn IIa T3 Giai đoạn IIb T4a No Mo B Giai đoạn IIc T4b Giai đoạn IIIa T1-2 N1/N1c T1 N2a Giai đoạn IIIb T3-T4a N1/N1c T2-T3 N2a Mo C T1-T2 N2b Giai đoạn IIIc T4a N2a T3-T4a N2b T4b N1-N2 Giai đoạn IVa M1a Giai đoạn IVb Bất kỳ T Bất kỳ N M1b D Giai đoạn IVc M1c Giai đoạn I: Đây là giai đoạn sớm nhất của ung thư đại trực tràng, được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ, lúc này ung thư vẫn chỉ giới hạn trong đại trực tràng. Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư chỉ có ở niêm mạc, phát triển trong các lớp của đại trực tràng. Giai đoạn II: Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư bắt đầu lan ra ngoài đại tràng và di căn tới các khu vực khác trong đại trực tràng.
Giai đoạn này được phân loại thành giai đoạn nhỏ IIa, IIb và IIc, dựa trên việc tế bào ung thư lây lan ra bao xa. 6 Giai đoạn IIa: Ung thư đã phát triển xuyên qua lớp cơ vào lớp thanh mạc của đại tràng; các tế bào thường nằm ở lớp ngoài cùng của đại trực tràng nhưng không lan sang các mô lân cận hoặc đến các hạch bạch huyết lân cận. Giai đoạn IIb: Ung thư đã phát triển đến lớp phúc mạc và không lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc ở nơi khác; tế bào ung thư vượt qua lớp ngoài cùng của đại tràng tới niêm mạc bao quanh cơ quan ổ bụng. Giai đoạn IIc: Khối u đã lan rộng xuyên qua các lớp của đại trực tràng và phát triển trực tiếp hoặc dính trực tiếp vào các cấu trúc lân cận nhưng không lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc ở nơi khác.
Giai đoạn III: Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư bắt đầu lan đến các hạch bạch huyết lân cận. Giai đoạn này được chia thành 3A, 3B và 3C dựa trên số lượng hạch bạch huyết bị ảnh hưởng bởi ung thư. Giai đoạn IIIa là giai đoạn hạch bạch huyết gần với đại trực tràng bị ảnh hưởng. Ung thư đã phát triển đến lớp dưới niêm mạc hoặc lớp cơ của thành ruột và lan rộng sang 1-3 hạch bạch huyết vùng hoặc đã lan đến các mô gần hạch bạch huyết.
Nếu có 2-3 hạch bạch huyết bị ảnh hưởng là giai đoạn IIIb và nếu có trên 4 hoặc các hạch bạch huyết ở xa bị ảnh hưởng thì được xếp vào giai đoạn IIIc. Giai đoạn IV: Đây là giai đoạn cuối cùng của ung thư đại trực tràng khi các tế bào ung thư di căn tới các cơ quan khác của cơ thể. Giai đoạn IVa: Ung thư đã phát triển qua tất cả các lớp của thành ruột và xâm lấn sang các hạch bạch huyết vùng; đồng thời di căn đến một phần xa của cơ thể, chẳng hạn như gan hoặc phổi. Giai đoạn IVb: Ung thư đã di căn ra hơn một phần xa của cơ thể.
Các phương pháp điều trị Phương pháp điều trị được quyết định dựa trên giai đoạn của ung thư đại tràng. Thông thường ung thư từ giai đoạn 1-3 có thể được điều trị bằng phẫu thuật, khi đó khối u được phẫu thuật cắt bỏ (bao gồm các mô và tế bào ở gần phụ thuộc vào giai đoạn ung thư). Tuy nhiên, nếu ung thư tiến triển sang giai đoạn 3 (3A, 3B hoặc 3C) thì có thể cần hóa trị kèm theo phẫu thuật để ngăn ngừa các tế bào ung thư tấn công các cơ quan khác của cơ thể. Giai đoạn 4 của ung thư đại tràng, hóa trị hoặc liệu pháp đích là phương pháp hiệu quả để điều trị ung thư [71].