Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu sinh lý viêm ruột thừa 1. Giải phẫu ruột thừa * Vị trí ruột thừa Theo Đỗ Xuân Hợp và các tác giả khác thì ruột thừa nằm ở đoạn cuối của manh tràng nguyên thuỷ, lúc đầu ruột thừa (RT) có hình chóp nón lộn ngược, chiều dài thay đổi từ 1-20cm, trung bình 8-10cm; đường kính trung bình 4-6cm, dung tích 0,1-0,6ml. Ở người trưởng thành, ba giải cơ dọc của manh tràng chụm lại là gốc RT.
Lúc đầu RT nằm ở đỉnh của manh tràng, sau đó do sự phát triển không đều của manh tràng, đẩy RT quay dần vào phía sau trong của manh tràng, cách góc hồi manh tràng 2 - 2,5cm [29],[44],[59]. Lòng RT mở vào manh tràng bởi một nếp van hình bán nguyệt gọi là van Gerladi. Bình thường van này đóng, mở tạo ra sự thông thương giữa RT và manh tràng, khi van bị tắc RT dễ bị viêm [29],[59]. Ngoài lớp niêm mạc, thành RT được cấu tạo bởi 2 lớp cơ: Lớp cơ vòng ở trong, lớp cơ dọc ở ngoài tạo ra sự hội tụ của ba dải cơ dọc là chỗ nối của MT và RT.
Đây là mốc để xác định RT trong mổ ở những trường hợp khó tìm, người ta dựa vào các dải cơ dọc, nhất là dải cơ dọc trước. RT có thể nằm ở các vị trí khác nhau theo tác giả: Wakeley (1933) thống kê qua 10.000 trường hợp mổ tử thi thấy vị trí của RT sau manh tràng 65.01%, cạnh manh tràng 2.26%, trước hồi tràng 1%, cạnh đại tràng và sau hồi tràng 0. Nguyễn Quang Quyền (1993): 53,3% RT ở vị trí hố chậu, RT sau manh tràng chiếm 30%, các vị trí khác ít gặp hơn [44]. Nguyễn Văn Khoa và cộng sự (1995) thống kê thấy có tới 83,4% RT ở hố chậu phải và chỉ 14,89% RT ở sau manh tràng, RT ở trong hố chậu bé 0,6%, dưới gan 0,41%, giữa các quai ruột 0,7% [32].
Thang Long University Library 3 Hình 1.1: Một số vị trí của RT gặp trên lâm sàng (Nguồn:Atlas giải phẫu học – Nguyễn Quang Quyền [20],[44]) Trong y văn, một số dạng đặc biệt khác của RT được mô tả: - RT ở hố chậu trái, trong trường hợp đảo lộn phủ tạng. - RT quá dài, đầu RT kéo dài sang bên trái ổ bụng, khi viêm gây đau ở hố chậu trái. - Trường hợp khi thai nhi phát triển các quai ruột quay không hết, manh tràng ở vị trí bất thường, có thể thấy RT ở cạnh dạ dày, dưới thuỳ gan phải… - Mạc treo của RT là phần tiếp tục của lá dưới mạc treo tiểu tràng đi qua phía sau đoạn cuối của hồi tràng. Khi mạc treo của RT dài thì mổ thuận lợi;ngược lại, nếu mạc treo RT ngắn hoặc dính vào thành bụng sau việc bóc tách RT khó khăn hơn [7].2: Giải phẫu manh tràng và ruột thừa (Nguồn: Atlas giải phẫu học – Nguyễn Quang Quyền [20],[44]) 4 RT được cấp máu bởi một nhánh của động mạch hồi, manh, kết, trùng tràng.
Nhánh nuôi RT đi trong bờ tự do của mạc treo RT gọi là động mạch RT. Đi cùng động mạch RT có các tĩnh mạch đưa máu từ RT về tĩnh mạch hồi đại tràng rồi đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên. RT không có hệ tuần hoàn bên, khi VRT động mạch này dễ bị tắc dẫn đến hoại tử, thủng RT [30],[31],[28],[44]. Ở một số trường hợp có thể thấy động mạch RT phụ xuất phát từ động mạch manh tràng sau, cung cấp máu cho gốc RT tại chỗ nối của nó với manh tràng.
Bạch mạch và các hạch bạch huyết RT đổ vào nhóm hạch bạch huyết hồi manh tràng [31],[44],[56]. * Cấu trúc mô học Thành ruột thừa tương đối dày do sự phát triển mạnh mẽ của mô bạch huyết tạo thành 1 lớp liên tục gồm những nang, những điểm bạch huyết lớn hay nhỏ [16],[20], [29],[59]. Lòng ruột thừa nhỏ không đều. Thành RT gồm 4 lớp: niêm mạc, dưới niêm mạc, lớp cơ và lớp thanh mạc [12],[27],[44].
Lớp niêm mạc: gồm lớp biểu mô, lớp đệm và cơ niêm. - Biểu mô: giống của đại tràng chứa 3 loại tế bào đó là tế bào hấp thụ, tế bào hình đài tiết nhày và tế bào ưa bạc. - Lớp đệm: là mô liên kết có nhiều tuyến Lieberkuhn, những nang bạch huyết nhỏ và lớn phát triển xuống cả lớp dưới niêm mạc. - Lớp cơ niêm: là giải cơ trơn không thuần thục, mỏng và bị ngắt quãng bởi nang bạch huyết.
Lớp dưới niêm mạc: được tạo thành bởi mô liên kết tương đối dày có nhiều mạch máu, đôi khi có nhiều thuỳ mỡ. Lớp cơ: thuộc loại cơ trơn có 2 lớp, trong là lớp cơ vòng, ngoài là lớp cơ dọc. Lớp thanh mạc: dính với lớp cơ, nhưng khi RT bị viêm có thể bóc tách dễ dàng [9]. Sinh lý ruột thừa Vai trò sinh lý của RT vẫn chưa rõ ràng.
Trước đây, người ta cho rằng RT không có vai trò gì, RT chỉ là một vết tích trong quá trình phát triển vì thế có thể cắt bỏ Thang Long University Library 5 khi tiến hành những phẫu thuật ở vùng hố chậu phải hoặc các phẫu thuật ở gần đó, nhất là trong những trường hợp chấn thương bụng [11],[36],[28],[10],[59]. Những năm gần đây, một số tác giả coi RT cũng như các phần khác của ống tiêu hoá có chức năng miễn dịch. Trong lớp dưới niêm mạc RT, ở trẻ sơ sinh chỉ có vài ba nang bạch huyết. Số lượng các nang bạch huyết này tăng dần và đến độ tuổi 15 thì có chừng 200 nang, đến tuổi 30 thì giảm nhiều, chỉ còn lại khoảng một nửa, đến tuổi 60 thì hoàn toàn biến mất.
Các nang lympho ở RT được coi như tiền đồn của hệ thống bảo vệ và là nơi chịu sự tấn công của vi khuẩn giống như amidan ở họng hầu làm nhiệm vụ bảo vệ chống lại các vi khuẩn xâm nhập [11],[14],[59],[56]. Lâm sàng và cận lâm sàng của viêm ruột thừa 1. Lâm sàng * Triệu chứng cơ năng - Đau bụng: bao giờ cũng có và là triệu chứng đầu tiên luôn gặp và quan trọng nhất, cần được khai thác một cách tỉ mỉ [57],[59]. Khởi đầu đau ở HCP hay quanh rốn, có khi ở trên rốn rồi sau nhiều giờ mới khu trú ở HCP.
Đau không xuất hiện ở HCP là lý do dễ chẩn đoán nhầm; bệnh nhân thường được chẩn đoán là viêm niêm mạc dạ dày, hay cơn đau của loét dạ dày - tá tràng. Trong VRT thường đau không nhiều, chỉ âm ỉ thỉnh thoảng có lúc trội lên, đau không thành cơn. Lúc đầu đau ít, sau đó đau tăng dần. - Buồn nôn và nôn: là những dấu hiệu không thường xuyên, xảy ra sau khi đau.
Bệnh nhân có khi chỉ buồn nôn, đôi khi nôn ra thức ăn, thậm chí nôn ra dịch mật. Nôn do sự kích thích phúc mạc, cũng có thể do phản ứng của cơ thể. Nếu nôn xuất hiện trước khi có cơn đau cần xem lại chẩn đoán để loại trừ nguyên nhân khác [28],[57]. - Rối loạn tiêu hoá: có thể gặp dưới các dạng bí trung đại tiện, đại tiện phân lỏng… Trước đây, người ta cho rằng người bị táo bón dễ bị VRTC nhưng dấu hiệu này ít gặp nên giá trị chẩn đoán không lớn [3].
* Triệu chứng toàn thân - Người mệt mỏi, uể oải. - Bệnh nhân thường có sốt nhưng sốt không cao, thân nhiệt chỉ thay đổi trong khoảng 37o5 đến 38oC. Khi sốt cao thường là RT đã hoá mủ hoặc vỡ. - Kèm theo sốt là vẻ mặt nhiễm trùng: môi khô, lưỡi bẩn, hơi thở hôi… [27],[57].
6 * Triệu chứng thực thể - Đau HCP: Có thể đau ở các điểm Mac Burney, Clado, Lanz, điểm sau trên mào chậu phải (trong VRTC sau manh tràng) hoặc cả vùng HCP ấn đau trong đó điểm Mac Burney đau nhất, đây là triệu chứng hay gặp và quan trọng nhất trong chẩn đoán VRTC. Tuy nhiên khi RT thay đổi vị trí, điểm đau có thể thay đổi và tính chất đau cũng khác. - Phản ứng cơ vùng HCP: do ổ bụng bị kích thích trong quá trình viêm các cơ co phản xạ có tính chất tự vệ chống đau khi bàn tay thầy thuốc ấn sâu vào thành bụng vùng HCP [57]. - Kích thích phúc mạc (còn gọi là dấu hiệu Blumberg hoặc Shotkin Blumberg).
Khi thăm khám dùng đầu ngón tay ấn nhẹ, từ từ vào điểm đau nhất ở vùng HCP, bệnh nhân vẫn chịu được, sau đó thả tay ra đột ngột, bệnh nhân đau tăng. Có tác giả coi dấu hiệu này như là biểu hiện sớm của VPM và gần như đi cùng với phản ứng cơ. [61] cho rằng trong VRTC nếu Blumberg dương tính mà phản ứng cơ thành bụng không có thì phải xem lại. - Các dấu hiệu khác: Ngoài các dấu hiệu kể trên các tác giả còn đề cập đến những dấu hiệu khác như tăng cảm giác da vùng HCP, Obrasov, Rosing.
Tuy nhiên, những dấu hiệu này ít gặp và ít có giá trị nên chỉ mang tính chất tham khảo. - Thăm trực tràng: Có thể thấy túi cùng bên phải đau. Ngoài ra thăm trực tràng còn có ý nghĩa trong chẩn đoán phân biệt VRTC với một số bệnh lý khác đặc biệt ở người cao tuổi khi chẩn đoán khó. Cận lâm sàng.
* Công thức máu và số lượng bạch cầu Giá trị của xét nghiệm bạch cầu (BC) trong chẩn đoán VRTC đã trở thành kinh điển trước tất cả các trường hợp nghi ngờ VRTC và đã được nhiều tác giả đề cập đến. Hầu hết bệnh nhân VRTC có số lượng BC tăng trên 12. Tuy vậy một số bệnh nhân thì BC chỉ hơi tăng hoặc bình thường. Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra độ nhạy của tăng số lượng BC rất khác nhau, từ 52% đến 96% và tăng BC đa nhân trung tính từ 39% đến 96% [30],[35],[46].
Sự tăng BC thường tỉ lệ với tiến triển của VRTC nhưng cũng không ít trường hợp VRT ở giai đoạn thủng mà BC và tỉ lệ BC đa nhân trung tính hoàn toàn bình thường. Thang Long University Library 7 Nhìn chung, độ đặc hiệu của các tham số này thấp (tỉ lệ dương tính giả cao) do vậy tỉ lệ cắt bỏ RT âm tính vẫn cao. * Xét nghiệm nước tiểu Là xét nghiệm thường quy được thực hiện. Hầu hết không có biến động đặc biệt ngoại trừ PH thường toan, nhưng không đặc hiệu.
* Siêu âm Siêu âm chẩn đoán VRTC là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mới được áp dụng năm 1981, Siêu âm trong những trường hợp VRTC có thể nhìn thấy RT dạng hình bia (khi cắt ngang), hoặc hình ngón tay đeo găng (khi cắt dọc). Độ nhạy của phương pháp này từ 75 - 89%, độ đặc hiệu từ 86 - 100%. Những trường hợp VRT muộn có thể thấy RT to, dịch quanh RT hoặc dịch nhiều trong ổ bụng.