ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi là bệnh ác tính phổ biến nhất trên toàn thế giới, chiếm 13% tổng số ca ung thư mới [29]. Theo Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu năm 2015, ung thư phổi cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư với hơn 1,7 đến 1,8 triệu ca tử vong hàng năm và tỷ lệ tử vong theo độ tuổi cao nhất (26,6 ca tử vong trên 100.000 dân) trong số các bệnh ung thư [39]. Giai đoạn đầu của bệnh ung thư phổi thường khởi phát và tiến triển âm thầm, không rõ triệu chứng chỉ phát hiện được nhờ tình cờ chụp X - quang phổi, khám sức khỏe định kỳ. Khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng thì thường u đã khá to.
Các phương pháp chính để điều trị bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và điều trị đích. Trong đó, phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản đối với giai đoạn sớm từ I - II - IIIA, hóa trị và xạ trị được áp dụng để điều trị khi bệnh tiến triển tại chỗ, tại vùng hay đã lan tràn không còn khả năng phẫu thuật nhằm làm giảm nhẹ triệu chứng và kéo dài thời gian sống thêm. Tại Hoa Kỳ, ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở nam giới và phụ nữ ở Hoa Kỳ, với ước tính 158.770 người chết trong năm 2018 [53]. Khoảng 80- 85% NB ung thư phổi không tế bào nhỏ ung thư (UTPKTBN).
Trong đó, có khoảng 25% NB được chẩn đoán lần đầu với UTPKTBN được chẩn đoán mắc bệnh giai đoạn III, trong đó hầu hết các trường hợp là không thể chữa khỏi [51]. Hệ thống phân loại của Ủy ban Liên hợp về Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) được công bố vào năm 2017, tỷ lệ sống sót sau 5 năm cho giai đoạn IIIA là 36%, giai đoạn IIIB là 26% và giai đoạn IIIC là 13% [41]. Việt nam cũng là một trong số nước có tỉ lệ mắc ung thư cao trên thế giới. Năm 2013, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư phổi đã tăng lên gấp 4 lần.000 ca tử vong.
Trong số các NB ung thư phổi nhập viện, 62,5% không còn khả năng phẫu thuật. Cứ 12 người nam bị bệnh ung thư phổi thì có 4 - 10 NB là nữ, với tỉ lệ khoảng 29,6/100.000 người (nam) và 7,3/100. Hà Nội, trong 100.000 người dân thì có đến 40 người mắc bệnh ung thư phổi. ở TP Hồ Chí Minh là 30/100.
Tỷ lệ sống thêm 5 năm : Ung thư phổi tế bào nhỏ 6%. Ung Thang Long University Library 2 thư phổi không tế bào nhỏ 18%. Cũng kết quả điều tra năm 2012: mỗi NB ung thư phải chi 200 triệu đồng cho điều trị trực tiếp và gián tiếp. Khoảng 1/3 NB không đủ tiền mua thuốc sau 1 năm phát hiện bệnh [16].
Dù đã có nhiều phương pháp điều trị mới, tuy nhiên tỷ lệ sống sót sau 5 năm là dưới 12% đến 15%. Độ tuổi chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến phổi trung bình là 71 tuổi, và loại ung thư đặc biệt này rất hiếm gặp trước tuổi 20 [36]. Số liệu của nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ tái phát tại chỗ sau phẫu thuật cắt bỏ khối u trong ung thư không tế bào nhỏ giai đoạn I, II là 6%-55%. Tổn thương tái phát thường thấy ở vùng kế cận khối u đã bị cắt bỏ, hạch rốn phổi trung thất cùng bên.
Tỷ lệ tái phát tại chỗ sau 5 năm là 23%, thời gian tái phát trung bình là 14 tháng. Nguy cơ thất bại điều trị sau 5 năm là 42%, bao gồm cả tái phát tại tại chỗ và tái phát xa. Tỷ lệ thất bại điều trị do tái phát tại chỗ là 25%, do tái phát xa là 46% và phối hợp cả hai là 29% [15]. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, tăng thời gian nằm viện, tăng chí phí điều trị và giảm tuổi thọ của người bệnh và tăng gánh cho gia đình và xã hội.
Theo D Tayfun và cộng sự cho rằng: Hoạt động chăm sóc của điều dưỡng trực tiếp tác động vào chất lượng điều trị, chăm sóc tốt giúp nâng cao chất lượng điều trị, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm biến chứng và tử vong cho người bệnh và nâng cao uy tín của bệnh viện [55]. Bệnh viện Bạch mai là bệnh viện lớn - hàng năm có rất nhiều bệnh nhân ung thư phổi đến khám và điều trị. Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về vai trò của công tác điều dưỡng với người bệnh ung thư phổi. Nhằm giúp cho điều dưỡng có hoạt động chăm sóc hiệu quả hơn và góp phần cho kết quả điều trị người bệnh ung thư phổi được tốt hơn, chúng tôi thực hiện đề tài: Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh ung thư phổi và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Bạch Mai năm 2021.
Với mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người bệnh ung thư phổi được điều trị hóa chất tại Bệnh viện Bạch Mai. Phân tích kết quả chăm sóc người bệnh ung thư phổi điều trị hóa chất và một số yếu tố liên quan. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số đặc điểm giải phẫu và sinh lý của phổi. Đặc điểm giải phẫu. Lồng ngực là một khoang kín, chứa các cơ quan trong đó phổi và tim là hai cơ quan chính, xung quanh là các khoang xương bao bọc, phía trên có các cơ và mô liên kết ở vùng cổ, phía dưới có cơ hoành ngăn cách với ổ bụng. Khung xương cứng được tạo bởi xương ức ở phía trước, cột sống ở phía sau và nối với nhau bằng 12 đôi xương sườn.
Các cơ liên sườn cùng với các mô liên kết làm cho thành ngực có tính đàn hồi và khả năng thay đổi kích thước lồng ngực trong một giới hạn nhất định. Phổi là một tạng xốp, không có cơ, chỉ có các sợi đàn hồi. Vì vậy thể tích của phổi có thể thay đổi. Phổi phải có ba thùy, phổi trái có hai thùy.
Các thùy lại được chia ra làm nhiều tiểu thùy. Đơn vị cấu tạo của phổi là phế nang. Khoang màng phổi (KMP). Màng phổi là một bao thanh mạc kín bọc bên ngoài phổi.
Màng phổi gồm có lá tạng lợp mặt ngoài của phổi và lá thành lót mặt trong của thành ngực. Hai lá liên tục với nhau ở rốn phổi và luôn liên tục với nhau tạo nên một khoang ảo được gọi là khoang màng phổi. Khoang màng phổi có chứa ít dịch lỏng làm cho lá tạng và lá thành trượt lên nhau một cách dễ dàng. Áp suất trong khoang màng phổi là áp suất âm.
Áp suất của khoang màng phổi thay đổi theo nhịp thở. - Ở cuối thì hít vào bình thường, áp suất trong KMP là -7 mm nước. - Ở cuối thì hít vào gắng sức, áp suất trong KMP là - 40 mm nước. - Ở cuối thì thở ra bình thường, áp suất trong KMP là -4 mm nước.
- Ở cuối thì thở ra gắng sức, áp suất trong KMP là -1 mm nước. - Khi ho, hắt hơi, áp suất âm có thể tăng lên -100 mm nước. Thang Long University Library 4 Màng phổi Phổi Trái Phổi phải Cơ hoành Hình 1. Đối chiếu phổi lên lồng ngực (1) Phổi và màng phổi nhìn trước (2) 1.
Đặc điểm sinh lý. Hoạt động hô hấp. Hoạt động hít vào thở ra là nhờ các cơ hô hấp, tính đàn hồi của thành ngực và nhu mô phổi, và dựa trên nguyên tắc không khí từ nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp. Áp suất phế nang luôn bằng áp suất khí quyển.
Bình thường, cơ hoành đảm bảo 70% dung tích hô hấp. Cụ thể: - Thì hít vào, cơ hoành hạ thấp xuống, các cơ liên sườn ngoài co làm xương sườn nâng lên, xương ức đồng thời cũng nâng lên và nhô ra trước. Do KMP có áp lực âm nên phổi cũng nở ra theo làm giảm áp suất phế nang xuống thấp hơn khí quyển làm không khí sẽ đi vào phổi. - Thì thở ra, các cơ hô hấp giãn ra làm các xương sườn hạ xuống, cơ hoành lồi lên trên, thể tích lồng ngực giảm đi, áp suất màng phổi bớt âm, phổi co lại, dung tích phổi giảm, áp suất trong phế nang cao hơn áp suất trong khí quyển, không khí từ phổi đi ra ngoài.
Cách đào thải chất xuất tiết đường hô hấp và dị vật đường hô hấp. Đờm và dị vật trong đường hô hấp được đào thải ra ngoài nhờ cấu trúc đặc biệt của niêm mạc cây phế quản, đó là hệ thống lông mao như một bàn chải. Hệ thống lông mao này sẽ đẩy dần đờm và dị vật di chuyển một chiều ra phía khí 5 quản. Tại khí quản chúng sẽ là tác nhân gây kích thích tạo phản xạ ho đẩy đờm và dị vật ra ngoài.
Hạch vùng Có 3 hạch vùng quanh phổi: Hạch cổ, hạch trung thất, hạch thượng đòn. - Hạch cổ là hạch nhỏ ở gần cổ, tính chất hạch thường cứng, rắn, chắc và ít di chuyển, có bờ rõ rệt và tách rời nhau. Theo ước tính, thì khoảng 10% bệnh nhân ung thư phổi tiến triển sang giai đoạn ung thu phổi di căn hạch ở cổ, là khi các khối u di chuyển đến cổ và chèn ép vào các dây thần kinh gây đau đớn và khó chịu cho người bệnh. Nhìn chung tiên lượng sống của bệnh nhân ung thư giai đoạn này có thời gian sống hơn 5 năm khá thấp, khoảng 13,5%.
Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ung thu phổi di căn hạch ở cổ cao gấp 2 lần những biến chứng di căn khác, do mức độ tổn thương nhiều và ảnh hưởng đến khả năng ăn uống, sinh hoạt hàng ngày. - Hạch trung thất Là một trong các loại hạch bạch huyết nằm ở trong khoang trung thất. Ung thư phổi di căn hạch trung thất là một dạng phổ biến nhất trong ung thư phổi. Ung thư phổi có thể di căn đến hạch trung thất bằng ba cách chính là: qua hệ thống bạch huyết, qua các mạch máu hoặc tại nơi gần khối u.
Ở giai đoạn này điều trị rất phức tạp và khó khăn, chi phí điều trị tốn kém. Người bệnh ở giai đoạn này có tiên lượng rất xấu, thời gian sống thấp. Việc điều trị ở giai đoạn này chỉ nhằm giảm nhẹ các triệu chứng và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên thời gian sống của bệnh nhân còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ di căn, phác đồ điều trị phù hợp, tình hình sức khỏe của bệnh nhân, tinh thần chống chọi với bệnh tật….
- Hạch thƣợng đòn Là hạch trong ung thư phổi, có tiên lượng xấu, tỷ lệ sống thêm 5 năm dưới 18% 1. Đại cƣơng về Ung thƣ phổi 1.