CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Các yếu tố tham gia làm vững khớp gối. Khái niệm khớp gối: là một phức hợp bao gồm khớp tạo nên bởi lồi cầu trong với mâm chày trong (hay còn gọi là khớp đùi chày trong), khớp được tạo nên bởi lồi cầu ngoài với mâm chày ngoài (hay còn gọi là khớp đùi chày ngoài) và khớp tạo bởi rãnh liên lồi cầu đùi với xương bánh chè (hay còn gọi là khớp đùi bánh chè). Khớp gối hoạt động được bình thường là nhờ rất nhiều yếu tố bao gồm yếu tố tĩnh và yếu tố động, chúng tạo nên một tổng thể thống nhất về sinh cơ học. Giải phẫu khớp gối [24].Yếu tố giữ khớp tĩnh 1.
Các sụn chêm Sụn chêm của gối, gồm có sụn chêm trong và sụn chêm ngoài, hình bán nguyệt, nằm giữa mặt khớp lồi cầu đùi ở trên và mâm chày phía dưới. Sụn chêm dính chặt vào bao khớp ở bờ chu vi và quan hệ với sự chuyển động của khớp gối, chiều dày trung bình của sụn chêm khoảng 3-5 mm, ở trẻ sơ sinh và trẻ em, sụn chêm ngay lập tức có hình bán nguyệt và có đầy đủ mạch máu, về sau mạch máu nghèo dần hướng về phía trung tâm[49],[50]. Sụn chêm trong: có hình chữ C, dài khoảng 5-6 cm, đi từ diện trước gai chạy vòng theo mâm chày trong ra phía sau và bám vào diện sau gai, bờ ngoại vi dính chặt Thang Long University Library 4 vào bao khớp trong, sừng sau (16-20 mm) rộng hơn sừng trước (8-10 mm), sừng trước bám vào mâm chày ngay phía trước gai chày trước và dây chằng chéo trước. Sừng sau bám vào mâm chày sau ngay phía trước nơi bám dây chằng chéo sau, liên quan chặt chẽ với dây chằng bên trong sau và gân cơ bán mạc….Chính mối quan hệ giải phẫu với các thành phần xung quanh đã làm hạn chế sự di chuyển của sụn chêm trong khi vận động gấp duỗi gối, điều này theo một số tác giả giải thích vì sao thương tổn sụn chêm trong hay gặp trong chấn thương khớp gối.
Sụn chêm ngoài: có hình chữ O, phủ bề mặt khớp mâm chày và rộng hơn sụn chêm trong, nó xuất phát từ diện trước gai, hơi ra phía ngoài một chút so với điểm bám của dây chằng chéo trước ở mâm chày. Sừng trước và sừng sau của sụn chêm ngoài rộng bằng nhau khoảng (12-13 mm), sụn chêm ngoài chạy vòng ra sau theo bờ mâm chày ngoài và bám vào diện sau gai cùng với dây chằng đùi SC và dây chằng chéo sau. Trên suốt dọc chu vi, SC ngoài chỉ dính một phần vào bao khớp bên ngoài. Giữa sừng trước của hai SC có dây chằng liên gối vắt ngang qua, tuy nhiên không hằng định.
Sụn chêm liên quan với các thành phần trong khớp [24]. Hệ thống dây chằng và bao khớp: đảm bảo giữ vững các thành phần của khớp gối hoạt động trong vị trí giải phẫu bình thường. Dây chằng chéo trước (DCCT) đảm bảo cho độ vững phía trước của khớp gối, chống lại sự trượt ra trước của mâm chày [45]. Ngoài ra dây chằng còn làm hạn chế há khớp bên trong.
Dây chằng chéo sau (DCCS) có tác dụng giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau [44]. DCCS kết hợp với DCCT để kiểm soát chuyển động lăn và trượt của lồi cầu đùi trên mâm chày. Các dây chằng của khớp gối [24] Dây chằng bên trong (DCBT) bám vào mặt trong của lồi cầu đùi trong và mặt trong của mâm chày sát phía sau điểm bám tận của khối cơ chân ngỗng. Dây chằng có tác dụng giữ cho khớp gối vững phía trong, chống lại há khớp bên trong.
Dây chằng bên ngoài (DCBN) bám vào lồi cầu đùi ngoài và mặt trước của chỏm xương mác. Dây chằng giữ cho khớp gối vững phía ngoài, chống lại khớp bên ngoài. Bao khớp giữ cho đầu dưới xương đùi và đầu trên xương chày luôn tiếp xúc với nhau. Đặc biệt, bao khớp còn tăng cường cho phần phía sau của lồi cầu đùi, nó có tác dụng làm hạn chế duỗi quá mức của khớp gối và hạn chế trượt xương chày ra trước.
Yếu tố giữ khớp động Bao gồm các cơ bám quanh khớp, khi các cơ này co sẽ làm cho khớp gối hoạt động và đồng thời tăng cường giữ cho khớp vững chắc khi vận động. Các cơ bám xung quanh khớp gối [24] Thang Long University Library 6 Cơ tứ đầu đùi giữ cho khớp vững phía trước và tăng cường độ vững ở 2 bên khớp gối, là cơ chính kiểm soát biên độ vận động của khớp gối như gấp, duỗi cũng như đảm bảo sức mạnh của khớp gối. Vì vậy phục hồi sức mạnh của cơ tứ đầu đùi trước và sau mổ rất quan trọng. Cơ căng cân đùi và cơ nhị đầu đùi tăng cường giữ khớp phía ngoài và cùng với dây chằng bên ngoài chống lại há khớp bên ngoài.
Các cơ chân ngỗng kết hợp với dây chằng bên trong làm vững khớp phía trong, chống lại há khớp bên trong. Các cơ sinh đôi và cơ bán mạc có tác dụng làm tăng độ vững cho phía sau khớp gối. Cơ khoeo có tác dụng giữ cho các diện khớp phía ngoài nằm đúng vị trí giải phẫu khi khớp gối xoay ngoài.Tổng quan về dây chằng chéo trước 1. Giải phẫu của dây chằng chéo trước Dây chằng chéo trước đóng một vai trò rất quan trọng hoạt động của khớp gối, nhờ vào đặc tính sinh học và vai trò của nó.
Các dây chằng chéo của khớp [24] Dây chằng chéo trước được tạo bởi một dải tổ chức liên kết có tỷ trọng cao, được căng từ lồi cầu đùi ngoài tới mâm chày trong. Dây chằng chéo trước có chiều dài là 22 - 41 mm và đường kính là 7 - 12 mm [46]. 7 Các điểm bám của dây chằng chéo trước: DCCT bám vào lồi cầu xương đùi và mâm chày rất phức tạp, nó tạo thành những bó riêng biệt bám hình rẻ quạt. Điểm bám vào xương của DCCT có ý nghĩa rất quan trọng trong phẫu thuật tái tạo dây chằng.
+ Ở xương đùi: DCCT bám vào một hố nhỏ nằm ở phần sau mặt trong của lồi cầu ngoài, theo hình nửa vòng tròn: bờ trước phẳng, bờ sau lồi, trục lớn của nó có h- ướng hơi xuống dưới và ra trước, kích thước khoảng 10 x 13 mm [49]. Phần lồi phía sau của điểm bám chạy song song với giới hạn sụn khớp phía sau của lồi cầu ngoài. Vị trí bám của DCCT vào lồi cầu đùi có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự thay đổi chiều dài của các bó sợi [47]. + Ở xương chày: DCCT bám vào một hố nhỏ nằm ở phía trước ngoài của gai chày trong.
Điểm bám ở xương chày trải rộng hơn ở xương đùi và ít ảnh hưởng đến sự thay đổi độ dài các bó sợi của DCCT [47]. Chức năng và đặc tính sinh cơ học của dây chằng chéo trước + Giữ cho mâm chày không bị trượt ra trước so với lồi cầu đùi. Chức năng này là quan trọng nhất. + Kiểm soát sự chuyển động của bao khớp phía bên ngoài ở tư thế duỗi gối cùng với sự phối hợp của DCBN và DCCS.
+ Phối hợp cùng với bao khớp, DCBT, DCCS giới hạn sự chuyển động ra ngoài của xương chày khi ở tư thế gấp gối. + Kiểm soát động tác xoay ngoài, xoay trong của xương chày ở tư thế duỗi gối khi phối hợp với DCBN, DCBT và DCCS. + Giữ cho khớp gối không gấp quá mức khi phối hợp với DCCS, lồi cầu đùi và hai sụn chêm. + Phối hợp với DCCS, bao khớp phía sau, hai dây chằng bên, dây chằng khoeo chéo, lồi cầu đùi và hai sụn chêm có tác dụng giữ cho khớp gối không duỗi quá mức.
+ Cùng với dây chằng chéo sau bắt chéo nhau tạo thành trục kiểm soát chuyển động xoay, chuyển động trước sau của mâm chày so với lồi cầu đùi đồng thời giữ chặt hai mặt khớp. + Khả năng chịu tác động của lực căng dãn: Lực căng tối đa làm đứt dây chằng, lực căng này có thể lên đến 2000N đối với dây chằng bình thường. Thang Long University Library 8 + Biến dạng đàn hồi của DCCT là hiện tượng dây chằng trở lại trạng thái như ban đầu khi lực tác động bị triệt tiêu, cho thấy DCCT có khả năng giãn và đàn hồi khoảng 20 - 25% độ dài so với dây chằng nguyên thủy. Nếu lực tác động lớn làm cho dây chằng giãn, không còn khả năng trở lại nguyên trạng ban đầu khi lực tác động bị triệt tiêu, khi đó dây chằng bị giãn không hồi phục.
+ Độ chắc là khả năng chống lại lực tác động gây ra sự biến dạng của dây chằng. Trong quá trình vận động dây chằng chéo trước có thể chịu lực tới 2000N, nó chịu khoảng 4 triệu chu kỳ lực một năm. Dây chằng chéo trước nhanh chóng phục hồi độ chắc và chiều dài sau khi lực tác động theo chu kỳ ngưng lại, lực đề kháng của hệ thống xương - dây chằng - xương giảm dưới tác động giảm của lực có chu kỳ. Vì vậy dây chằng dễ bị đứt trong trường hợp động tác lặp đi lặp lại nhiều lần.
+ Sinh cơ học của dây chằng chéo trước: Trong quá trình hoạt động bình thường, DCCT chịu những lực khoảng 400 - 500N [60], nhưng nó có thể phải chịu lực lớn hơn khi chạy, nhảy có xoắn vặn và đổi hướng. Học thuyết điều dưỡng và áp dụng học thuyết chăm sóc người bệnh [9] Học thuyết Maslow Đề cập đến nhu cầu cơ bản con người, gồm 5 mức độ: - Mức độ 1: gồm nhu cầu thể chất như không khí, nước, thức ăn - Mức độ 2: gồm sự an ninh và an toàn cho thể chất và sinh lý. - Mức độ 3: nhu cầu về tình cảm như mối quan hệ bạn bè, tình yêu và những người xung quanh - Mức độ 4: nhu cầu về vấn đề tôn trọng, kính nể trong xã hội - Mức độ 5: sự hoàn thiện, độc lập, tự giải quyết mọi vấn đề. Học thuyết của Dorothea Orem Theo Dorothea Orem’s (1971): xác định việc chăm sóc điều dưỡng cần nhấn mạnh về việc người bệnh tự chăm sóc.
Orem khẳng định việc tự chăm sóc người bệnh cần được hướng dẫn, chỉ dẫn họ cách thức để họ tự làm, người bệnh sẽ thích thú vì thấy đời sống của họ vẫn còn có ý nghĩa, sức khỏe được dần dần từng bước được nâng cao. Mục tiêu của học thuyết Orem là giúp người bệnh có năng lực tự chăm sóc. Khi họ có 9 khả năng về tâm sinh lý và nhu cầu xã hội, việc nâng cao này được phát triển đến khi người bệnh tự làm lấy tất cả (Orem, 2001).