CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm 1. Khái niệm dinh dưỡng và dinh dưỡng lâm sàng Theo định nghĩa của Hội Dinh dưỡng lâm sàng và chuyển hóa châu Âu (ESPEN) năm 2017, khoa học dinh dưỡng đề cập đến tất cả các khía cạnh của sự tương tác giữa thực phẩm và chất dinh dưỡng, sự sống, sức khỏe và bệnh tật cũng nhu các quá trình mà sinh vật ăn, hấp thụ, vận chuyển, sử dụng và bài tiết các chất thực phẩm [66]. Dinh dưỡng lâm sàng (DDLS) là chuyên ngành liên quan đến việc phòng ngừa, chẩn đoán và quản lý các thay đổi về dinh dưỡng và trao đổi chất liên quan đến các bệnh và tình trạng cấp tính và mãn tính do thiếu hoặc thừa năng lượng và chất dinh dưỡng [66]. DDLS phần lớn được xác định bởi sự tác động qua lại giữa tác động qua lại giữa thiếu hụt thức ăn và quá trình dị hóa liên quan đến bệnh tật và lão hóa [66].
Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [25]. TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có TTDD không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [25]. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng 1.
Khái niệm Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (ĐGTTDD) là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về TTDD và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó [25]. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng đối với người bệnh ĐGTTDD người bệnh giúp cho việc theo dõi diễn biến bệnh trong quá trình điều trị, tiên lượng, cũng như đánh giá hiệu quả can thiệp dinh dưỡng. Không có một giá trị riêng biệt nào của các kỹ thuật ĐGTTDD có ý nghĩa chính xác cho từng NB. Việc phát hiện sớm tình trạng thiếu dinh dưỡng giúp xây dựng chiến lược hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời cho NB thì hiệu quả sẽ tốt hơn là khi để NB rơi vào tình 3 trạng suy kiệt dinh dưỡng quá nặng mới can thiệp [1].
Suy dinh dưỡng (SDD) Theo ESPEN đã đề xuất định nghĩa suy dinh dưỡng cho NB như sau: “Suy dinh dưỡng là một tình trạng cung cấp thiếu, không đầy đủ hay rối loạn hấp thu dinh dưỡng dẫn đến làm thay đổi thành phần cơ thể (giảm khối mỡ tự do và khối tế bào cơ thể), làm giảm chức năng về thể chất, tinh thần và suy giảm kết quả điều trị bệnh” [12] [66]. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị 1. Khái niệm nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) là mức tiêu thụ năng lượng và các thành phần dinh dưỡng được coi là đầy đủ để duy trì sức khỏe và sự sống của mọi cá thể bình thường trong một quần thể dân cư [25]. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị thường bao gồm: năng lượng, ba chất dinh dưỡng sinh năng lượng chính (protid, glucid, lipid), chất xơ và các chất khoáng, các vitamin, nước và các chất điện giải [25].
Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam là một văn bản nhà nước về nhu cầu năng lượng và chất dinh dưỡng theo lứa tuổi, giới tính, loại hình lao động và tình trạng sinh lý [25]. Công thức tính nhu cầu khuyến nghị năng lượng (NCKNNL) cả ngày cho người Việt Nam [2]: A = B × C Trong đó: A: Nhu cầu khuyến nghị năng lượng cả ngày (Kcal) B: Năng lượng chuyển hóa cơ bản cả ngày (Kcal) C: Hệ số hoạt động thể lực (PAL) Nhu cầu khuyến nghị protein cho người trưởng thành Việt Nam hiện nay là 1,13 g/kg/ ngày. Năng lượng do protein cung cấp dao động từ 13 – 20% tổng số năng lượng khẩu phần, trong đó protein động vật chiếm 30 – 35% tổng số protein [2]. Nhu cầu khuyến nghị lipid cho người trưởng thành Việt Nam là 20 – 25%, không nên vượt quá 25% năng lượng tổng số [2].
Nhu cầu khuyến nghị (NCKN) theo giới: Nam trưởng thành từ 20 – 69 tuổi là 57 – 65g/ ngày, Nữ từ 20- 69 tuổi là 46 – 55g/ ngày. Nhu cầu khuyến nghị glucid khuyến nghị cho người Việt Nam là trong khoảng 55 – 65% năng lượng tổng số, trong đó các glucid phức hợp nên chiếm 70% [2]. Nhu cầu khuyến nghị dinh dưỡng cho người bệnh phẫu thuật đường tiêu hóa 4 Ngày 25 tháng 12 năm 2015, Bộ Y Tế ban hành Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (Quyết định số 5517/QĐ-BYT), theo đó, nhu cầu dinh dưỡng cho người bệnh sau phẫu thuật đường tiêu hóa được chia làm các giai đoạn sau đây [1]: Bảng 1. Nhu cầu khuyến nghị Bộ Y tế (2015) Nhu cầu các chất dinh dưỡng Cơ cấu khẩu phần 1.
Giai đoạn khởi động ruột (1 - 2 ngày sau mổ) NL: 35 – 40Kcal /kg cân nặng hiện NL: 300 - 500 Kcal/ngày tại/ngày. Protein: < 10g/ngày Protein: 1 - 1,2g/kg cân nặng hiện Lipid: < 5g/ngày tại/ngày. Glucid: 50 – 100g/ngày Lipid: 15 - 20% tổng năng lượng. - Số bữa ăn: 6 - 8 bữa/ngày.
- Nuôi một phần qua đường ruột, phần Ăn lỏng hoàn toàn (nước cháo, nước còn lại nuôi qua đường tĩnh mạch quả chín) 2. Giai đoạn chuyển tiếp 1 (3 - 5 ngày sau mổ) L: 35 - 40 Kcal/kg cân nặng hiện NL: 700 – 1000 Kcal/ngày tại/ngày Protein: < 25g/ngày Protein: 1 – 1,2g/kg cân nặng hiện tại. Lipid: < 15g/ngày Lipid: 15 – 20% tổng năng lượng Glucid: 158 - 225g/ngày - Nuôi một phần qua đường ruột, phần - Thực phẩm: gạo, khoai tây, quả chín, còn lại nuôi qua đường tĩnh mạch sữa đã thủy phân protein và lipid chuỗi trung bình. Trong các trường hợp đặc biệt, tùy theo độ cắt giảm thể tích hấp thu mà lựa chọn các thực phẩm công thức có chứa các chuỗi peptid, hoặc ở các dạng acid amin và Lipid ở dạng chuỗi trung bình.
- Ăn mềm (cháo, súp, sữa, nước quả) - Số bữa ăn: 6 – 8 bữa/ngày 5 3. Giai đoạn chuyển tiếp 2 (3 - 5 ngày sau mổ) NL: 35 – 40 Kcal/kg cân nặng hiện NL: 1200 - 1300 Kcal/ngày tại/ngày. Protein: 30 - 45g/ngày Protein: 1 - 1,2g/kg cân nặng Lipid: < 20g/ngày hiện tại. Glucid: 250 - 330g/ngày Lipid: 15 - 20% tổng năng lượng Số bữa ăn: 4 - 6 bữa/ngày 4.
Giai đoạn hồi phục ( ≥ 5 ngày sau mổ) NL: 1800 - 1900 Kcal/ngày NL: 1800 - 1900 Kcal/ngày Protein: 12 - 14% tổng năng lượng Protein: < 55 – 65g/ngày Lipid: < 40 – 50g/ngày Lipid: 15 - 25% tổng năng lượng. Acid Glucid: 275 - 325g/ngày béo chưa no một nối đôi chiếm 1/3, - Số bữa ăn: 4 - 6 bữa/ngày nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số Lipid 1. Chăm sóc dinh dưỡng Chăm sóc dinh dưỡng là một thuật ngữ bao quát để mô tả hình thức dinh dưỡng, cung cấp chất dinh dưỡng và một hệ thống giáo dục cần thiết cho bữa ăn hoặc để điều trị bất kỳ tình trạng nào liên quan đến dinh dưỡng trong cả dinh dưỡng phòng ngừa và dinh dưỡng lâm sàng [66]. Chăm sóc dinh dưỡng lâm sàng trong bệnh viện là một nhóm các hoạt động khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và chăm sóc dinh dưỡng cần thiết của NB [66].2 Các kỹ thuật đánh giá tình trạng dinh dưỡng người bệnh tại bệnh viện 1.
Phương pháp nhân trắc học Nhân trắc học là nghiên cứu về phép đo cơ thể con người theo các kích thước của xương, cơ, mô mỡ [59]. Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích xác định/ đo lường các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và TTDD. Số đo nhân trắc được sử dụng để đánh giá TTDD để theo dõi thay đổi về TTDD và tình trạng mất khối cơ [1]. Theo Khảo sát Kiểm tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia (NHANES) của Hoa Kỳ (2021), nhân trắc học là thành phần chính trong đánh giá TTDD ở trẻ em và người lớn.
Các dữ liệu nhân trắc học được sử dụng để đánh giá tình trạng sức khỏe và chế độ ăn uống, nguy cơ mắc bệnh và thay đổi thành phần cơ thể xảy ra trong suốt tuổi thọ của người trưởng thành [59]. Theo Bộ Y tế New South Wales của Úc (NSW Health), 6 việc đo cân nặng và chiều cao nên được thực hiện ở bất cứ nơi nào thực tế và phù hợp. Theo quy trình chăm sóc dinh dưỡng của WHO, tất cả bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên phải được đo và ghi lại cân nặng, chiều cao trong vòng 24 giờ kể từ khi nhập viện và cân nặng phải tiếp tục được đo và ghi lại ít nhất hàng tuần trong bối cảnh cấp tính và ít nhất hàng tháng tại các cơ sở lưu trú dài ngày [60]. Trọng lượng cơ thể (cân nặng): Theo NHANES của Hoa Kỳ (2021), về đo trọng lượng cơ thể, đối tượng sẽ được cân bằng kilogram bằng cân kỹ thuật số [59].
Cân trọng lượng có độ chính xác đến 10 gram đối với trẻ em và 100 gram đối với người lớn [60]. Cách đo: Đối tượng sẽ phải đứng giữa bàn cân, hai tay chống sang hai bên và nhìn thẳng về phía trước. Kết quả đọc trên thiết bị đo kỹ thuật số ổn định [59]. Đây là thông số được sử dụng thường xuyên nhất trong thực hành lâm sàng.
Các thay đổi ngắn hạn phản ánh sự cân bằng dịch. Các thay đổi dài hạn có thể phản ánh sự thay đổi toàn bộ trong khối mô thực nhưng không cung cấp thông tin về sự thay đổi thành phần cấu tạo. - Giảm cân không chủ ý trong vòng 3 – 6 tháng qua là một chỉ số có giá trị trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng từ nhẹ < 5% đến nặng > 10 – 15% [12]. - Sụt cân không chủ ý: Sụt cân không chủ ý phân biệt với sụt cân có chủ ý (nhịn ăn/ thiếu ăn).
Tỉ lệ sụt cân được tính theo công thức: × 100 Chiều cao: Theo NHANES của Hoa Kỳ (2021), chiều cao đứng là đánh giá kích thước thẳng đứng tối đa. Số đo tầm vóc này được thu thập trên tất cả các đối tượng từ 2 tuổi trở lên, có khả năng ứng vững mà không cần sự trợ giúp. Chiều cao đứng được đo bằng bảng thước đo chiều cao riêng biệt có tấm ván sau thẳng đứng cố định và phần đầu có thể điều chỉnh được, chính xác đến từng milimet [59]. Bảng đo chiều cao đứng có độ chính xác của thiết bị là ± 0,2 cm.
Phạm vi 0 – 210 cm [68].