Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu đầu trên xương đùi 1. Phân vùng đầu trên xương đùi Hình 1.1: Phân vùng đầu trên xương đùi Nguồn: Atlas Giải Phẫu Người, Frank H. MD * Chỏm xương đùi có kích thước khoảng từ 40 - 60mm, phần diện khớp được bao bọc bởi một lớp sụn, là khối hình cầu (2/3 khối cầu), ngẩng lên trên, vào trong và hơi chếch ra trước.
* Cổ xương đùi là phần nối tiếp giữa chỏm và khối mấu chuyển xương đùi, có hướng chếch lên trên và vào trong, độ dài 30-40mm, hình ống dẹt phía trước và sau; nên có hai mặt hai bờ và hai đầu: + Mặt trước: phẳng có bao khớp che phủ. + Mặt sau: lồi chiều thẳng, lõm chiều ngang; chỉ có 2/3 phía trong có bao khớp che phủ. + Bờ trên: ngắn, nằm ngang. + Bờ dưới: dài, chéo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 + Đầu trong: dính vào chỏm có nhiều lỗ mạch máu. + Đầu ngoài: to, liên quan đến khối mấu chuyển. * Khối mấu chuyển Hình 1. Phân chia hình thể cổ giải phẫu xương đùi.
Nguồn: theo theo Swapan K. Mấu chuyển lớn : có 2 mặt và 4 bờ. - Mặt trong: Phần lớn dính ngay vào cổ, phía sau có hố ngón tay, trong đó có cơ bịt ngoài bám và gân chung của 3 cơ bám (2 cơ sinh đôi và cơ bịt trong). - Mặt ngoài: Lồi hình 4 cạnh, có gờ chéo để cơ mông nhỡ bám vào, ở trên và dưới gờ có 2 diện liên quan tới túi thanh mạc của cơ mông nhỡ và cơ mông lớn.
- Bờ: Trên: Có diện để cơ tháp bám. Dưới: có mào để cơ rộng ngoài bám. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 5 Trước: Có gờ để cơ mông nhỡ bám. Sau: Liên tiếp với mào mấu chuyển có cơ vuông đùi bám.
Mấu chuyển bé : Là một núm xương lồi ở phía sau dưới cổ khớp, là nơi bám tận của cơ thắt lưng chậu. Từ đó có 3 đường toả ra, một đường đi xuống dưới gặp đường ráp để cơ lược bám hai đường khác chạy lên trên đi ra cổ khớp. Độ góc cổ xương đùi Đầu trên xương đùi có 2 góc quan trọng, làm cơ sở để đặt phương tiện kết xương. - Góc thân - cổ xương đùi: Trên bình diện thẳng, trục cổ giải phẫu hợp với trục thân xương đùi một góc khoảng 125-1350.
Góc này thay đổi theo lứa tuổi; ở người trưởng Hình 1.3: Góc thân- cổ và góc nghiêng trước cổ xương đùi thành khoảng 120 - 1300. Nguồn Atlas Giải Phẫu Người, Frank H. MD - Góc nghiêng trước cổ xương đùi: trục cổ giải phẫu hơi chếch ra trước so với trục ngang của hai lồi cầu xương đùi, tạo thành một góc khoảng 15- 20 0 gọi là góc nghiêng trước cổ xương đùi. Sự cấp máu cho đầu trên xương đùi Nguồn mạch cung cấp máu cho đầu trên xương đùi là các động mạch mũ, được tách ra từ động mạch đùi sâu gồm: động mạch mũ trước hay mũ ngoài; động mạch mũ sau hay động mạch mũ trong.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 6 Các động mạch thân xương đùi cho các nhánh cấp máu cho vùng mấu chuyển và nền cổ. Ngoài ra, các nhánh của động mạch mũ còn nối với các nhánh của động của động mạch thân xương tạo thành vòng nối quanh mấu chuyển. Như vậy vùng mấu chuyển được cấp máu rất phong phú và dồi dào trong xương xốp. Khi gãy liên mấu chuyển xương đùi, xương thường liền nhanh, ít bị khớp giả.
Động mạch dây chằng tròn cấp máu cho chỏm đùi; ở người cao tuổi thì động mạch này hầu như không còn [13.4: Mạch máu nuôi dưỡng cho cổ và chỏm xương đùi. Nguồn Atlas Giải Phẫu Người, Frank H.Cấu trúc xương vùng mấu chuyển và đầu trên xương đùi Vùng mấu chuyển và cổ xương đùi chủ yếu là xương xốp, vỏ xương quanh mấu chuyển mỏng hơn rất nhiều so với vỏ thân xương đùi, nhưng có khả năng chịu tải trọng cao gấp 2 - 3 lần trọng tải cơ thể, nhờ có cấu trúc đặc biệt của các bè xương. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 7 Hình 1.5: Cấu trúc các bè xương đầu trên xương đùi theo Ward. Nguồn: theo Wards F.
(1876) Trong cấu trúc của hệ thống các bè xương có một điểm yếu, đó chính là "Tam giác Ward", chính là điểm giữa cổ xương đùi, nơi mà các bè xương chịu lực không đan qua, điểm này yếu ở mọi lứa tuổi do cấu trúc. Tại tâm chỏm sự giao thoa của các bè xương tạo một khối cầu đường kính khoảng 2cm có độ rắn chắc hơn 3 lần so với vùng xương ngoại vi của chỏm, ở người vận động nhiều hoặc chơi thể thao xương càng chắc.Ở người cao tuổi, các bè xương thưa và mất dần nên ở vùng mấu chuyển trở nên giòn và dễ gãy, đôi khi chỉ với một chấn thương nhẹ. Vai trò của vùng mấu chuyển trong cơ sinh học khớp háng Vùng mấu chuyển có nhiều cơ to khoẻ bám vào mấu chuyển lớn, đảm bảo chức năng trong việc nâng đỡ khung chậu và phần trên cơ thể giúp cho sự vận động khớp háng được linh hoạt. Biên độ vận động khớp háng như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 8 + Gấp / duỗi: 1200/00/200.
+ Xoay trong / xoay ngoài: 300/00/400. Về lực tác dụng lên khớp háng: thể trọng tạo một lực tải lên đầu trên xương đùi biểu thị bằng cánh tay đòn thể trọng. Người ta tính được rằng, bình thường cánh tay đòn này gấp 2,5 lần cánh tay đòn cơ dang. Năm 1977 Pauwels, cũng như các tác giả về sau này nghiên cứu cơ sinh học khớp háng kết luận rằng khi đứng trên một chân, chỏm đùi bên chân trụ chịu một lực tải gần 3 lần trọng lượng cơ thể, và hướng lực tác dụng vào cổ chỏm đùi tạo một góc 159 0 so với đường thẳng đứng.
Hiểu biết này đòi hỏi các loại nẹp vít phải có góc cổ thân gần với đường lực tác dụng cơ sinh học mới có thể phát huy tác dụng giúp mặt gãy luôn áp sát trong quá trình liền xương. Trong thực tế đặt vít vào cổ chỏm với góc ≥ 1500 hầu như không thể được, nên các dụng cụ kết xương hiện nay có góc cổ thân từ 1250, 1300, 1350. để phẫu thuật viên lựa chọn cho từng bệnh nhân cụ thể. Phân loại gãy vùng mấu chuyển Có nhiều cách phân loại khác nhau cho gãy liên mấu chuyển xương đùi như: Evans (1949) [36.]; Boyd và Griffin (1949); Ramadier (1956); Decoulx và Lavarde (1969);Ender (1970); Tronzo (1973); Jensen cải tiến cách phân loại của Evans (1975); Deburge(1976);Briot (1980).
Hiện nay phân loại của AO/ASIF được ứng dụng nhiều nhất phân loại dựa trên hướng đường gãy, số lượng mảnh vỡ, mức độ gãy vụn của thành sau - trong (vùng mấu chuyển bé) [57. Các tác giả của AO đã chia gãy liên mấu chuyển xương đùi thành 3 nhóm chính A1 - A2 - A3; trong mỗi nhóm chính lại có 3 tiểu nhóm: A1. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 9 - Loại A1: gãy đơn giản, có một đường gãy chạy từ mấu chuyển lớn đến vỏ xương bên trong gồm 3 dạng sau: A1-1: đường gãy nền cổ mấu chuyển. A1-2: đường gãy liên mấu chuyển.
A1-3: đường gãy dưới mấu chuyển bé. - Loại A2: gãy mấu chuyển có nhiều mảnh rời hướng đường gãy được xác định giống loại A1 nhưng vỏ thân xương bên trong gãy thành 3 mức. A2-1: gãy có một mảnh rời. A2-3: gãy có nhiều hơn 2 mảnh rời.
- Loại A3: đường gãy chạy từ vỏ thân xương đùi ngay dưới mấu chuyển lớn chạy vào trong mấu chuyển bé. Nếu đường gãy bên ngoài bắt đầu từ dưới mấu chuyển lớn kết thúc bên trong trên mấu chuyển bé thì loại gãy này cũng được xếp vào nhóm A3 (đường gãy nghịch). A3-3: gãy A3-1 có kèm gãy mấu chuyển nhỏ. Về ý nghĩa lâm sàng: A1: là loại gãy vững dễ nắn chỉnh.
A2: là loại gãy không vững, đặc biệt là A2-3. A3: là loại gãy rất không vững dễ di lệch, khó nắn chỉnh, hay di lệch khép. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 Hình 1. Phân loại gãy liên mấu chuyển xương đùi của AO.
* Nguồn: theo Mabesoone F. Chẩn đoán gãy kín khối mấu chuyển xương đùi 1. Triệu chứng lâm sàng - Bệnh nhân đau nhiều vùng thắt lưng và đầu trên xương đùi sau tai nạn - Hạn chế, mất vận động vùng đùi sau chấn thương - Biến dạng chi điển hình: Bàn chân đổ ngoài, chân bên tổn thương ngắn hơn bên lành - Sưng nề, bầm tím vùng chi bên tổn thương TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 - Dấu hiệu lạo xạo xương gãy và cử động bất thường cho phép khẳng định gãy xương nhưng thực tế không nên tìm dấu hiệu này vì gây đau đớn, thậm chí tổn thương mô mềm xung quanh. - Không có vết thương hở thông với ổ gãy.
Chẩn đoán hình ảnh 1. Chụp X quang Chụp X quang khung chậu, X quang khớp háng thẳng, nghiêng để đánh giá vị trí, kiểu gãy, mức độ di lệch ổ gãy từ đó có kế hoạch điều trị cụ thể 1. Chụp cắt lớp vi tính Với các trường hợp tổn thương chưa rõ ràng hay các trường hợp gãy khó, phức tạp nhiều mảnh rời cần chụp để góp phần phẫu thuật được thuận lợi hơn. Điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi 1.
Các phương pháp điều trị bảo tồn Trước kia, đa số ủng hộ việc điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi bằng bảo tồn kéo tạ. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong và tàn phế cao nên ngày nay phương pháp này hầu như ít được áp dụng do những bất lợi chủ yếu sau: + Bất động ổ gãy không vững. + Nắn chỉnh không tốt về giải phẫu và không có sức ép ở diện gãy để tạo liền xương trực tiếp, vì vậy dễ xảy ra các biến chứng như chậm liền xương, can xấu, khớp giả. + Gây khó chịu cho bệnh nhân vì phải mang khối bột nặng lâu ngày và nằm lâu nên dễ bị teo cơ, loãng xương, cứng khớp, loét, viêm phổi.
+ Tỉ lệ tử vong cao: theo Horowitz 1960 là 34,6%. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 + Các phương pháp điều trị bảo tồn thường được chỉ định cho những bệnh nhân không thể phẫu thuật được vì bệnh nhân quá già yếu, có bệnh nội khoa nặng, bệnh nhân không đi lại được trước khi chấn thương hoặc bệnh nhân không đồng ý mổ. Vậy các phương pháp điều trị bảo tồn bao gồm : Nằm nghỉ đặt nẹp, kéo liên tục, bó bột….