Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nhiễm khuẩn hô hấp trên (NKHHT) là một trong những bệnh lý phổ biến hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi và là nguyên nhân chính khiến trẻ phải đến khám tại các cơ sở y tế. Theo các thống kê dịch tễ học, trung bình mỗi trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) từ 4 đến 5 lần mỗi năm (và có thể lên đến 4 - 9 lần/năm theo Tổ chức Y tế Thế giới). Mặc dù phần lớn các trường hợp NKHHT không trực tiếp đe dọa tính mạng ngay từ đầu, bệnh gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sống của trẻ, tiêu hao chi phí điều trị, làm giảm ngày công lao động của người chăm sóc và tiềm ẩn nguy cơ tiến triển thành các biến chứng nhiễm trùng hô hấp dưới nghiêm trọng nếu không được phát hiện, chăm sóc và điều trị kịp thời.
Tại Việt Nam, chương trình Phòng chống Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em đã được triển khai từ năm 1984. Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với khí hậu cận xích đạo mưa nhiều, nắng nóng, cùng với điều kiện kinh tế - xã hội tại nhiều vùng nông thôn còn khó khăn, tỷ lệ mắc NKHHT vẫn duy trì ở mức cao. Đáng chú ý, thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm đường hô hấp cấp tại tuyến cơ sở ở tỉnh Hậu Giang còn nhiều bất cập; nghiên cứu của Phan Thị Diễm Thúy (2018) chỉ ra tỷ lệ sử dụng kháng sinh không an toàn, hợp lý tại trạm y tế xã ở huyện Phụng Hiệp là 53,5% và tại Long Mỹ là 33,1%. Nhận thức và hành vi chăm sóc của người mẹ đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát bệnh và giảm thiểu việc lạm dụng thuốc.
Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa của tác giả Nguyễn Xuân Quỳnh (Trường Đại học Võ Trường Toản, năm 2021) được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trong NKHHT ở trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang.
- Tìm hiểu kiến thức, thực hành về phòng chống NKHHT ở mẹ của trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang.
- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em dưới 5 tuổi (từ 1 đến 60 tháng tuổi) được chẩn đoán mắc các bệnh lý thuộc nhóm NKHHT (viêm mũi họng, viêm họng, viêm amiđan) và mẹ của các trẻ này.
- Phạm vi không gian: Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/05/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân loại chuyên môn
Khóa luận xây dựng trên nền tảng giải phẫu - sinh lý hệ hô hấp trẻ em và các tài liệu hướng dẫn chuyên ngành Nhi khoa:
- Đặc điểm giải phẫu - sinh lý: Trẻ dưới 6 tháng tuổi hô hấp chủ yếu qua mũi. Mũi và khoang hầu của trẻ ngắn, hẹp, niêm mạc mỏng mịn, nhiều mạch máu và tổ chức bạch huyết nhưng chức năng hàng rào sát trùng của niêm dịch còn yếu. Hệ thống xoang phát triển muộn (xoang hàm phát triển đầy đủ ở 7-8 tuổi; xoang trán và xoang sàng thường biểu hiện bệnh lý sau 5-12 tuổi, do đó trẻ dưới 4-5 tuổi hiếm khi viêm xoang). Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh từ 4-6 tuổi đến dậy thì; ở trẻ dưới 1 tuổi tổ chức lympho chủ yếu là VA, trong khi amiđan phát triển rõ rệt từ 2 tuổi trở lên.
- Tác nhân gây bệnh: Virus chiếm 60 - 70% các trường hợp NKHHCT (thường gặp gồm Respiratory Syncytial Virus, Influenza, Parainfluenza, Sởi, Adeno, Rhino, Entero, Corona). Vi khuẩn thường gặp gồm Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae, Bordetella pertussis, Klebsiella trachomatis.
- Phác đồ xử trí: Áp dụng phác đồ xử trí trẻ ho hoặc khó thở của Chương trình ARI và Xử trí lồng ghép chăm sóc trẻ ốm (IMCI) của Bộ Y tế và WHO, phân loại theo hai nhóm tuổi (dưới 2 tháng tuổi và từ 2 tháng đến 5 tuổi). Hướng dẫn dùng kháng sinh khi có chỉ định (Amoxicillin-clavulanate 50-80 mg/kg/ngày, Cefuroxim/Cefaclor 20-30 mg/kg/ngày, hoặc nhóm Macrolide).
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0{,}05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1{,}96$), sai số tuyệt đối $d = 0{,}1$, tỷ lệ tham khảo $p = 0{,}588$ (theo nghiên cứu của Bùi Thị Quỳnh Nga, 2017). Cỡ mẫu tối thiểu tính được là 93 trẻ. Thực tế nghiên cứu đã thu thập được mẫu gồm 123 cặp trẻ và mẹ theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện liên tiếp từ ngày 01/01/2021 đến 31/05/2021.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh: Trẻ từ 1 đến 60 tháng tuổi điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang được chẩn đoán xác định một trong các bệnh: viêm mũi họng, viêm họng, viêm amiđan.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ mắc NKHHT kèm theo các bệnh lý nhiễm trùng nặng toàn thân khác; mẹ của trẻ không có khả năng trả lời phỏng vấn hoặc từ chối tham gia.
- Quy chuẩn đánh giá biến số:
- Tuổi: Tính theo quy ước của WHO (1983).
- Dinh dưỡng: Đánh giá theo chuẩn tăng trưởng WHO (2006) dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi (suy dinh dưỡng vừa khi $<-2SD$, suy dinh dưỡng nặng khi $<-3SD$).
- Thân nhiệt: Đo nhiệt kế thủy ngân kẹp nách; không sốt ($37^\circ\text{C}$), sốt nhẹ ($\ge 38^\circ\text{C}$), sốt cao ($\ge 39^\circ\text{C}$).
- Bạch cầu máu: Giá trị bình thường từ $4.000 - 10.000/\text{mm}^3$; tăng khi $> 10.000/\text{mm}^3$.
- Kiến thức về triệu chứng của mẹ: Tốt (nhận biết $\ge 6/8$ triệu chứng), Trung bình (kể được $\ge 3/8$), Không biết (không kể được triệu chứng nào).
- Kiến thức dự phòng của mẹ: Tốt (nhận biết $\ge 4/6$ nội dung), Trung bình (kể được $\ge 2/6$), Không biết (không kể được nội dung nào).
- Xử lý số liệu: Nhập và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0. Thống kê mô tả bằng tần số, tỷ lệ phần trăm; kiểm định mối liên quan giữa các biến số định tính bằng kiểm định Chi-square ($\chi^2$), mức ý nghĩa thống kê được xác định khi $p < 0{,}05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1 - Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các đặc điểm giải phẫu và sinh lý đường hô hấp trẻ em, giải thích cơ chế dễ tổn thương của niêm mạc mũi họng và tính chất hẹp của đường thở. Tác giả phân tích định nghĩa, phân loại NKHHT (viêm mũi họng, viêm họng, viêm amiđan, viêm thanh quản, viêm xoang, viêm tai giữa), nguyên nhân do virus, vi khuẩn và các yếu tố nguy cơ (suy dinh dưỡng, sinh nhẹ cân $<2500\text{g}$, thiếu sữa mẹ, nhà ở chật hẹp, khói bếp, khói thuốc lá, thay đổi thời tiết). Đồng thời, chương 1 tổng hợp các hướng dẫn xử trí theo chương trình IMCI/ARI và điểm qua tình hình dịch tễ NKHHT trên thế giới (Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Ethiopia, Nigeria, Hoa Kỳ) và tại Việt Nam qua các công trình nghiên cứu của Hoàng Văn Thìn (2013), Trần Thị Kiệm (2013), Trần Thị Nhị Hà (2016), Bùi Thị Quỳnh Nga (2017), Lý Thị Chi Mai (2012), Nguyễn Minh Tuấn (2016), Nguyễn Hồng Gấm (2017).
Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, địa điểm nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang trong 5 tháng đầu năm 2021. Chương 2 định nghĩa danh mục biến số nghiên cứu (đặc điểm nhân khẩu học, tiền sử sản khoa và dinh dưỡng, triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm bạch cầu máu, kiến thức và thái độ thực hành của mẹ), xây dựng quy trình thu thập thông tin bằng phiếu khám lâm sàng của bác sĩ nhi khoa kết hợp bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp người mẹ, xác lập các tiêu chí chuẩn hóa lâm sàng - cận lâm sàng và quy trình phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 20.0, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3 - Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng thu được trên 123 đối tượng nghiên cứu:
| Nhóm biến số |
Đặc điểm / Phân loại |
Số lượng ($n=123$) |
Tỷ lệ (%) |
| Độ tuổi của trẻ |
1 - < 12 tháng 12 - < 24 tháng 24 - < 36 tháng 36 - < 48 tháng 48 - 60 tháng |
20 25 32 25 21 |
16,3% 20,3% 26,0% 20,3% 17,1% |
| Giới tính của trẻ |
Nam Nữ |
65 58 |
52,8% 47,2% |
| Đặc điểm của mẹ |
Tuổi mẹ: 20 - 35 tuổi Nơi cư trú: Nông thôn Nghề nghiệp: Nông dân / công nhân Học vấn: Trung học cơ sở (THCS) Học vấn: Trung học phổ thông (THPT) |
95 91 97 68 34 |
77,2% 74,0% 78,9% 55,3% 27,6% |
| Tiền sử & Thể trạng |
Suy dinh dưỡng (vừa: 14,6%; nặng: 1,6%) Bú mẹ hoàn toàn đủ 6 tháng đầu Tiêm chủng đủ và đúng lịch Sinh đủ tháng |
20 49 109 106 |
16,2% 39,8% 88,6% 86,2% |
| Lâm sàng & Cận lâm sàng |
Triệu chứng ho Đau rát họng Sốt nhẹ ($38^\circ\text{C} - <39^\circ\text{C}$) Sốt cao ($\ge 39^\circ\text{C}$) Ăn uống kém / bú kém Chảy nước mũi Khám thực thể: Họng sưng đỏ Khám thực thể: Amiđan sưng to Số lượng bạch cầu máu tăng ($>10.000/\text{mm}^3$) |
78 82 65 36 65 52 107 44 87 |
63,4% 66,7% 52,8% 29,3% 52,8% 42,3% 87,0% 35,8% 70,7% |
| Chẩn đoán bệnh học |
Viêm họng Viêm amiđan Viêm mũi |
62 44 17 |
50,4% 35,8% 13,8% |
| Kiến thức & Thực hành |
Nhận biết khái niệm NKHHT Biết các bệnh cụ thể (viêm mũi/họng/amiđan) Hiểu biết đúng về triệu chứng: Mức độ tốt Hiểu biết đúng về triệu chứng: Mức trung bình Xử trí: Đưa trẻ đến cơ sở y tế nhà nước Xử trí: Khám bác sĩ tư nhân Xử trí: Tự mua thuốc cho trẻ uống Thực hành cho ăn uống nhiều hơn khi mắc bệnh Dùng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sĩ Kiến thức dự phòng bệnh: Mức trung bình |
90 120 38 82 65 43 11 77 114 113 |
73,2% 97,6% 30,9% 66,7% 52,8% 35,0% 8,9% 62,6% 92,7% 91,9% |
Về các mối liên quan thống kê:
- Trình độ học vấn của mẹ: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nhận biết về NKHHT ($p < 0{,}05$), mức độ hiểu biết triệu chứng bệnh ($p < 0{,}05$) và lựa chọn cơ sở xử trí y tế ($p < 0{,}05$). Mẹ có trình độ từ THCS trở lên có tỷ lệ nhận biết bệnh đúng (66,7% so với 6,5%) và đưa trẻ đến cơ sở y tế nhà nước cao hơn nhóm dưới THCS (48,8% so với 4,1%).
- Nghề nghiệp của mẹ: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ hiểu biết triệu chứng bệnh ($p < 0{,}05$), nhưng không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc nhận biết khái niệm bệnh ($p > 0{,}05$) và thái độ xử trí ($p > 0{,}05$).
- Yếu tố nguy cơ: Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng suy dinh dưỡng, tiền sử nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, tình trạng tiêm chủng hay tuổi thai khi sinh với các dạng bệnh học cụ thể (viêm mũi, viêm họng, viêm amiđan) trong mẫu nghiên cứu ($p > 0{,}05$).
Chương 4 - Bàn luận
Tác giả so sánh, đối chiếu kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trong nước:
- Tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm 24 - 36 tháng tuổi (26,0%) có sự khác biệt với kết quả của Trần Thị Nhị Hà (cao nhất ở nhóm 49 - 60 tháng), Lý Thị Chi Mai (1 - 3 tuổi chiếm 19,5%) và Đặng Văn Tuấn (nhóm $\le 1$ tuổi chiếm cao nhất 44,92%). Cơ chế được giải thích do giai đoạn 2 - 3 tuổi trẻ bắt đầu tiếp xúc môi trường nhà trẻ, hệ miễn dịch thụ động từ mẹ giảm dần trong khi hệ miễn dịch chủ động chưa hoàn thiện.
- Tỷ lệ giới tính nam (52,8%) cao hơn nữ (47,2%) tương đồng với nghiên cứu của Đặng Văn Tuấn (57,3% nam) và Hoàng Văn Thìn (40,9% nam), phù hợp với cơ cấu giới tính khi sinh tại Việt Nam theo số liệu của Tổng cục Dân số.
- Về địa dư và điều kiện sống, tỷ lệ bệnh nhân ở nông thôn chiếm 74,0%, tương đồng với nghiên cứu của Thành Minh Hùng (79,4%) nhưng khác với nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ của Nguyễn Hồng Gấm (thành thị chiếm 54%). Tác giả lý giải bối cảnh tỉnh Hậu Giang có dân cư sống chủ yếu ở vùng nông thôn, điều kiện chăm sóc y tế và kiến thức thực hành của các bà mẹ còn nhiều hạn chế.
- Đa số các bà mẹ có trình độ học vấn THCS (55,3%) và làm nghề nông dân/công nhân (78,9%), tạo nên sự tương đồng với kết quả của Thành Minh Hùng và Đặng Văn Tuấn.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác định mô hình bệnh tật NKHHT tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang: Viêm họng chiếm tỷ lệ cao nhất (50,4%), tiếp theo là viêm amiđan (35,8%) và viêm mũi (13,8%).
- Mô tả bức tranh lâm sàng điển hình: Triệu chứng thực thể họng sưng đỏ chiếm ưu thế tuyệt đối (87,0%), triệu chứng cơ năng phổ biến nhất là đau rát họng (66,7%), ho (63,4%), sốt nhẹ (52,8%) và ăn uống kém/bú kém (52,8%).
- Tỷ lệ trẻ có tăng số lượng bạch cầu trong máu đạt mức cao 70,7% (trong đó gặp ở 30,9% trẻ viêm họng, 29,2% trẻ viêm amiđan và 10,6% trẻ viêm mũi).
- Đánh giá thực trạng kiến thức và thực hành của người mẹ: 73,2% mẹ nhận biết được thuật ngữ NKHHT, 97,6% biết các bệnh lý cụ thể. Đa số bà mẹ có hiểu biết về triệu chứng ở mức trung bình (66,7%) và dự phòng ở mức trung bình (91,9%); tỷ lệ đạt mức hiểu biết tốt về dự phòng còn rất thấp (6,5%). Về xử trí, 52,8% chọn đến cơ sở y tế nhà nước, 35,0% đến khám bác sĩ tư nhân, nhưng vẫn còn 8,9% tự ý mua thuốc điều trị.
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp dữ liệu lâm sàng và dịch tễ học thực địa trực tiếp tại tỉnh Hậu Giang, hỗ trợ các bác sĩ nhi khoa tại địa phương nắm bắt các đặc điểm bệnh lý thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi.
- Chứng minh mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn của người mẹ với năng lực nhận biết bệnh, hiểu biết triệu chứng và hành vi lựa chọn nơi khám chữa bệnh an toàn.
- Đề xuất cơ sở cho công tác truyền thông y tế: Cần tăng cường giáo dục sức khỏe tại tuyến cơ sở tập trung vào các bà mẹ khu vực nông thôn và có học vấn dưới THCS; nâng cao kiến thức nhận biết dấu hiệu cảnh báo sớm, thực hành chăm sóc dinh dưỡng đúng cách và hạn chế tình trạng tự mua thuốc điều trị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang với phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một cơ sở điều trị duy nhất (Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang) trong khoảng thời gian 5 tháng, cỡ mẫu gồm 123 bệnh nhi.
- Chưa phân tích sâu căn nguyên vi sinh học (nuôi cấy vi khuẩn, xét nghiệm định danh virus chuyên sâu) để đối chiếu chính xác tỷ lệ nhiễm khuẩn so với tăng bạch cầu máu.
- Các biến số về tiền sử nuôi dưỡng và chăm sóc phụ thuộc vào trí nhớ của người mẹ qua phỏng vấn hồi cứu, có thể tồn tại sai số nhớ lại.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô nghiên cứu đa trung tâm tại các bệnh viện tuyến huyện và trạm y tế xã trên địa bàn toàn tỉnh.
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc kết hợp kỹ thuật sinh học phân tử (PCR, nuôi cấy) nhằm xác định chính xác căn nguyên virus, vi khuẩn và theo dõi tình trạng kháng kháng sinh trong điều trị NKHHT tại cộng đồng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên Y đa khoa, Bác sĩ định hướng Nhi khoa: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp làm bệnh án nghiên cứu lâm sàng, tiêu chuẩn phân loại bệnh lý hô hấp trên theo IMCI/ARI và kỹ năng thu thập số liệu dịch tễ học lâm sàng.
- Cán bộ y tế dự phòng và nhân viên y tế cơ sở: Tham khảo dữ liệu về khoảng trống kiến thức - thực hành của các bà mẹ ở khu vực nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long để thiết kế nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp với trình độ dân trí địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Bệnh lý nhiễm khuẩn hô hấp trên nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu?
Trong tổng số 123 trẻ được chẩn đoán NKHHT, viêm họng chiếm tỷ lệ cao nhất với 50,4% (62 trẻ), tiếp theo là viêm amiđan chiếm 35,8% (44 trẻ) và viêm mũi chiếm 13,8% (17 trẻ).
2. Triệu chứng thực thể và cận lâm sàng nào xuất hiện phổ biến nhất ở nhóm trẻ nghiên cứu?
Triệu chứng thực thể phổ biến nhất khi khám là họng sưng đỏ, ghi nhận ở 87,0% bệnh nhi (107/123 trẻ). Về cận lâm sàng, có 70,7% trẻ (87/123 trẻ) có số lượng bạch cầu trong máu tăng cao trên $10.000/\text{mm}^3$.
3. Tỷ lệ các bà mẹ tự mua thuốc điều trị cho con khi mắc bệnh là bao nhiêu?
Nghiên cứu ghi nhận có 8,9% bà mẹ (11/123 người) tự mua thuốc cho con uống khi trẻ bị NKHHT, trong khi 52,8% đưa con đến cơ sở y tế nhà nước, 35,0% khám bác sĩ tư và 3,3% không xử trí gì để trẻ tự khỏi.
4. Trình độ học vấn của người mẹ có mối liên quan như thế nào đến việc xử trí khi trẻ mắc bệnh?
Kiểm định Chi-square cho thấy trình độ học vấn của mẹ có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thái độ xử trí bệnh ($p < 0{,}05$). Nhóm bà mẹ có trình độ học vấn từ THCS trở lên có tỷ lệ đưa con đến khám tại cơ sở y tế nhà nước đạt 48,8% (60/123), cao hơn rõ rệt so với nhóm dưới THCS chỉ đạt 4,1% (5/123).
5. Nghiên cứu có ghi nhận mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ với các dạng bệnh học NKHHT không?
Không. Phân tích thống kê trong nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ với việc phân loại mắc viêm mũi, viêm họng hay viêm amiđan ($p > 0{,}05$).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Xuân Quỳnh đã phản ánh đầy đủ đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng của 123 trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp trên điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang năm 2021, trong đó viêm họng là bệnh lý chiếm ưu thế nhất (50,4%) cùng dấu hiệu điển hình là họng sưng đỏ (87,0%) và tăng bạch cầu máu (70,7%). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức dự phòng của các bà mẹ phần lớn dừng lại ở mức trung bình (91,9%) và trình độ học vấn có tác động trực tiếp đến khả năng nhận biết triệu chứng cũng như lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh an toàn cho trẻ. Công trình cung cấp cơ sở thực tiễn có giá trị cho các can thiệp lâm sàng nhi khoa và định hướng các chương trình truyền thông y tế dự phòng tại địa phương.