Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm giải phẫu sinh lý hệ hô hấp và đặc điểm nhiễm khuẩn hô hấp trên ở trẻ em 1.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý hệ hô hấp ở trẻ em Bộ máy hô hấp đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sống của cơ thể - có chức năng thu nhận không khí từ bên ngoài vào để cung cấp oxy cho cơ thể, đồng thời thải khí cacbonic ra ngoài. Hệ hô hấp bao gồm từ mũi xuống họng, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi [4]. Hệ hô hấp trẻ em khác với người lớn, nhỏ hơn về kích thước và có những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu và sinh lý, các tổ chức tế bào của bộ phận hô hấp nói chung và phổi nói riêng chưa hoàn toàn biệt hóa và đang ở giai đoạn phát triển. Trẻ dưới 6 tháng tuổi hô hấp chủ yếu qua mũi.
Ở trẻ nhỏ, mũi và khoang hầu tương đối ngắn và nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp. Vì vậy không khí đi vào không được sưởi ấm và lọc sạch đầy đủ. Niêm mạc mũi mỏng, mịn; lớp ngoài của niêm mạc gồm các biểu mô hình trụ giàu mạch máu và bạch huyết. Chức năng loại thải vi khuẩn, virus, bụi còn yếu do khả năng sát trùng của niêm dịch còn kém.
Do những đặc điểm trên, khi bị nhiễm khuẩn hay hít không khí lạnh thì mũi họng dễ xuất tiết, tắc mũi, phù nề gây tắc nghẽn đường hô hấp và tăng công hô hấp. Các xoang cạnh mũi là các hốc rỗng bên trong một số xương ở mặt và sọ tạo thành, thông với khoang mũi. Sự phù nề niêm mạc mũi thường kéo theo sự phù nề và tắc nghẽn xoang. Các xoang mũi trẻ em xuất hiện từ từ cùng với sự phát triển cơ thể.
Xoang hàm là xoang lớn nhất của hệ thống xoang cạnh mũi với thể tích lên đến 15ml, phát triển đầy đủ như người lớn ở năm 7-8 tuổi và ngừng phát triển sau 18 tuổi. Viêm xoang hàm ở trẻ > 6 tuổi. Xoang trán không xuất hiện rõ cho đến 5-6 tuổi và đạt tối đa ở tuổi 20, thể tích 4-7ml. Viêm xoang trán thường gặp ở trẻ >12 tuổi.
Viêm xoang sàng cũng thường gặp ở trẻ > 12 tuổi, liên quan đến các cơ quan ở nền sọ và ổ mắt. Do đó, trước 4-5 tuổi, trẻ rất hiếm khi bị viêm xoang [3] [4]. 4 Họng hầu trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hình phễu hẹp, sụn mềm và nhẵn. Họng phát triển mạnh trong năm đầu và vào tuổi dậy thì.
Niêm mạc họng được phủ bằng lớp biểu mô rung hình trụ. Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh lúc trẻ được 4-6 tuổi cho đến tuổi dậy thì. Ở trẻ nhỏ duới 1 tuổi, tổ chức bạch huyết thường chỉ thấy VA phát triển còn amidan chỉ phát triển từ 2 tuổi trở lên. Khi VA bị viêm gây xuất tiết, phù nề vùng họng, gây tắc mũi sau làm trẻ phải thở bằng miệng.
Thở bằng miệng sẽ không được sâu, không khí không được sưởi ấm, số lượng khí trao đổi ít hơn; lâu dần gây rối loạn toàn thân nghiêm trọng do thiếu khí kéo dài như: lồng ngực kém phát triển, bộ mặt VA. VA cũng ở gần vòi Eustache nên viêm VA kéo dài là nguyên nhân của viêm tai giữa tái diễn. Đường thở từ mũi đến thanh, khí, phế quản ở trẻ em là tương đối hẹp và ngắn, tổ chức đàn hồi ít phát triển, vòng sụn mềm, dễ biến dạng, niêm mạc có nhiều mạch máu. Do những đặc điểm đó mà trẻ em dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp, niêm mạc thanh khí phế quản dễ bị phù nề, xuất tiết và dễ bị biến dạng trong quá trình bệnh lý [3] [4] [19].
Hình 1 Phân loại nhiễm khuẩn hô hấp theo vị trí giải phẫu [19] 1.2 Đặc điểm nhiễm khuẩn hô hấp trên Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp cấp, chỉ tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn (do vi khuẩn hoặc vi rút) ở 5 đường hô hấp từ mũi họng đến phế nang. Lấy nắp thanh quản làm ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới [3] [4]. Nhiễm khuẩn hô hấp trên (NKHHT) là tình trạng liên quan đến đường hô hấp trên, bao gồm mũi, xoang, hầu, thanh quản, thường bao gồm các bệnh như viêm mũi, viêm amidan, viêm họng, viêm thanh quản, viêm xoang, viêm tai giữa và cảm lạnh thông thường. Hầu hết các bệnh trên có nguyên nhân do vi rút và vi khuẩn, hoặc đôi khi có nguồn gốc từ nấm hoặc giun sán, nhưng chúng ít phổ biến hơn.
Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là nhiễm khuẩn hô hấp cấp trên (2/3 truờng hợp) [3] [4].3 Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi gây NKHHT Nguyên nhân chủ yếu là virus và vi khuẩn. Phần lớn NKHHCT ở trẻ (đặc biệt là NKHH trên) thường là các virus (60-70%). Vì phần lớn các virus có ái lực đường hô hấp, khả năng lây lan rất dễ dàng, tỷ lệ người lành mang virus cao và khả năng miễn dịch với virus ngắn và yếu. Ở các nước đang phát triển, virus vẫn là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em.
Các virus thường gây NKHHCT được xếp theo thứ tự [3] [4]. - Virus respiratory syncitial - Virus Influenzae - Virus Parainfluenzae - Virus Sởi - Virus Adeno - Virus Rhino - Virus Entero - Virus Corona Vi khuẩn còn là nguyên nhân quan trọng gây NKHHCT trẻ em, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Các loại vi khuẩn thường gây NKHHCT ở trẻ em xếp theo thứ tự sau: - Hemophilus Influenzae 6 - Streptococcus pneumoniae - Bordetella pertussis - Klebsiella trachomatis - Các vi khuẩn khác. Các nguyên nhân như nấm, ký sinh trùng… ít gặp hơn [3] [4].
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến mắc và tử vong do NKHHCT Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về dịch tễ học, nguyên nhân gây bệnh, lâm sàng và điều trị NKHHCT, đặc biệt là trong viêm phổi tại bệnh viện cũng như tại cộng đồng. Phân tích chi tiết các yếu tố nguy cơ gây NKHHCT thường gặp gồm: - Suy dinh dưỡng, đặc biệt là do thiếu sữa mẹ. - Trẻ sinh nhẹ cân dưới 2500g. - Sự trú ngụ của vi khuẩn gây bệnh ở họng.
- Nơi ở chật hẹp đông đúc. - Tiếp xúc với khí hậu lạnh. - Thiếu Vitamin A và tiêm chủng không đầy đủ. - Tiếp xúc với không khí ở nhiễm trong nhà.
- Khói bếp, chất đốt. - Đời sống kinh tế xã hội thấp, thu nhập gia đình thấp. Ở Việt Nam theo tổng kết và đánh giá năm 1993 của chương trình phòng chống NKHHCT đã đưa ra 2 lý do chính khiến cho trẻ mắc NKHHCT tử vong là trẻ không được đến cơ sở y tế kịp thời và trẻ không được điều trị đúng đắn. Trên cơ sở đó, các nội dung hoạt động chủ yếu của chương trình phù hợp theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới là [3] [13]: - Giáo dục kiến thức cho bà mẹ (phát hiện sớm khám kịp thời).
- Huấn luyện cán bộ y tế cơ sở (phần lớn là xử trí chăm sóc đúng). - Cung cấp thuốc phù hợp và hiệu quả để điều trị.4 Phân loại NKHHT * Viêm mũi họng: - Dịch tễ học: trong nhà hay nhà trẻ có trẻ bị cảm. - Triệu chứng: trẻ có cảm giác khô mũi sau đó chảy mũi ào ạt, sau 2 ngày bắt đầu sốt, sau 7 ngày sẽ hết sốt, trẻ bị nghẹt mũi, sổ mũi, ho, uể oải, biếng ăn. - Khám: mũi sưng đỏ, dịch trong 2 hốc mũi, hai cuống mũi sưng to, họng đỏ [2] [4] [6].
* Viêm họng: - Triệu chứng lâm sàng: sốt, đau rát họng, đau khi nuốt, đau lan lên tai, đau cơ khớp. - Khám: niêm mạc mũi sưng đỏ, họng viêm đỏ, hạch cổ mềm đau, có thể nổi ban đỏ [2] [4] [6]. * Viêm amidan: - Triệu chứng: sốt, đau họng, khó nuốt, ho. - Khám: họng đỏ, amidan sưng đỏ (có chất tiết hoặc mủ), sờ có hạch góc hàm, hạch cổ sưng đau 2 bên [2] [4] [6].5 Xử trí NKHHCT Phác đồ xử trí trẻ ho hoặc khó thở ở trẻ em của chương trình NKHHCT (ARI) và Xử trí lồng ghép trẻ bị bệnh (IMCI) dùng cho cán bộ y tế, đặc biệt dành cho tuyến y tế cơ sở được thiết kế chủ yếu dựa trên hỏi bệnh, quan sát trẻ, đo nhiệt độ mà không đòi hỏi nhiều về kiến thức chuyên môn và kỹ thuật chuyên môn khám điều trị bệnh.
Điều này phù hợp với mạng lưới y tế cơ sở còn yếu về chuyên môn dễ dàng nhận định đánh giá trẻ bệnh, đồng thời cán bộ y tế có thể hướng dẫn người mẹ có thể tự phát hiện và theo dõi trẻ bệnh giúp trẻ đến cơ sở y tế kịp thời hạn chế bệnh nặng và tử vong. Trên cơ sở đó chương trình chia làm 2 nhóm dấu hiệu dựa trên đặc điểm của trẻ theo nhóm tuổi như sau [3] [4]: Nhóm trẻ từ 2 tháng tuổi đến 5 tuổi - Dấu hiệu: + Ho, cảm lạnh, chảy nước mũi, hoặc nghẹt mũi. 8 + Không thở nhanh. + Không có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào.
- Xử trí: + Điều trị sốt (nếu có). + Nếu ho trên 30 ngày, chuyển đến bệnh viện để chẩn đoán. + Điều trị viêm tai, viêm họng (nếu có). + Khám và chữa các bệnh khác (nếu có).
+ Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc tại nhà. Trẻ dưới 2 tháng tuổi - Dấu hiệu: + Ho, không thở nhanh (dưới 60 lần/phút), không có dấu hiệu nguy kịch nào khác. - Xử trí: Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ tại nhà. + Giữ ấm trẻ.
+ Cho trẻ bú nhiều lần hơn. + Làm sạch thông mũi để trẻ dễ bú. Hướng dẫn bà mẹ theo dõi những dấu hiệu để đưa trẻ đi khám lại: + Khó thở hơn. + Bú kém hơn, bỏ bú.
+ Trẻ li bì khó đánh thức. + Trẻ nôn tất cả mọi thứ. Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ bị NKHHCT: Giúp cho bà mẹ biết được tình trạng bệnh của con mình, hiểu được cách chăm sóc, theo dõi tại nhà và làm đúng theo những hướng dẫn của cán bộ y tế như cách cho trẻ uống thuốc, cách cho trẻ bú, ăn, uống ra sao, cần theo dõi những dấu hiệu lệnh như thế nào để nếu có cần chuyển tới cơ sở y tế kịp thời. Mục đích cuối cùng là giúp trẻ nhanh chóng bình phục sức khỏe.
Các kháng sinh thường dùng trong NKHHT (khi có chỉ định) [2]: 9 -Amoxicillin-clavulanate 50-80 mg/kg/ngày chia 2-3 lần. -Cefuroxim hay cefaclor 20-30 mg/kg/ngày chia 2 lần. -Macrolide: azithromycin, erythromycin, clarithromycin.