ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi hệ tiết niệu là bệnh lí thường gặp ở lứa tuổi lao động. Bệnh được ghi nhận từ khi bắt đầu lịch sử nhân loại, các nhà khảo cổ đã khám phá thấy sỏi niệu trong các xác ướp cuả Ai Cập có 7. Sỏi tiết niệu đại đa số hình thành tại thận, sau đó theo dòng nước tiểu xuống khu trú ở bất kì vị trí nào trên đường tiết niệu. Sỏi đường tiết niệu là bệnh rất thường gặp và có xu hướng tăng dần ở Việt Nam cũng như trên thế giới.Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường trên 20 tuổi,nam nhiều hơn nữ.
Hàng năm tại Mỹ 1/1000 người trưởng thành phải nhập viện vì sỏi tiết niệu và chi phí cho bệnh này là hơn 10 tỷ USD/ năm.Sỏi tiết niệu nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như: nhiễm khuẩn niệu, suy thận…thậm chí tử vong. Điều trị sỏi tiết niệu có lịch sử từ thời Hippocrates, phẫu thuật sỏi tiết niệu phát triển mạnh và thu được thành tựu to lớn vào những năm 1980.Ngày nay chẩn đoán,điều trị sỏi đường tiết niệu đã đạt được nhiều tiến bộ nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ, góp phần đáng kể nâng cao chất lượng điều trị cho NB, phẫu thuật đã dần thu hẹp chỉ định và nhường chỗ cho các kỹ thuật hiện đại. Hiện nay các kỹ thuật hiện đại điều trị được 90- 95% số các trường hợp sỏi tiết niệu cần can thiệp [7]. Sỏi hệ tiết niệu thường chỉ có triệu chứng lâm sàng khi sỏi di chuyển hoặc gây tắc nghẽn.
Đặc biệt sỏi niệu quản thường gây tắc nghẽn nhiều nhất và gây tổn thương sớm đường tiết niệu. Ngược lại, các sỏi ở đài thận, nhất là ở đài dưới và sỏi san hô đôi khi diễn biến âm thầm ngay cả khi sỏi rất lớn phát hiện tình cờ khi chụp phim không chuẩn bị hay làm siêu âm bụng [13]. Vì vậy trong nhiều trường hợp người bệnh đến bệnh viện ở giai đoạn muộn, khi đã có biến chứng. Hiện nay, có nhiều phương thức điều trị sỏi hệ tiết niệu, kếp hợp vừa nội khoa ngoại khoa bằng nhiều biện pháp tuỳ thuộc vào bản chất sỏi và biến chứng do sỏi gây nên.
Tuy nhiên, việc loại bỏ sỏi khỏi hệ tiết niệu thường không khó, nhưng vấn đề phòng ngừa tái phát sỏi thì rất phức tạp vì cơ chế hình thành sỏi tiết niệu chưa được xác định rõ ràng [21]. Vì vậy đối với sỏi tiết niệu được chẩn Thang Long University Library 2 đoán, loại bỏ sỏi kịp thời vẫn chưa đủ mà cần phải có chiến lược dự phòng và theo dõi sỏi lâu dài và phòng ngừa phát sinh và tái phát. Xác định tỷ lệ hiện mắc của sỏi hệ tiết niệu và các yếu tố liên quan là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết giúp cho các nhà chuyên môn có cái nhìn tổng quát, tổng thể về bệnh, giúp các nhà quản lý hoạch định chiến lược phòng ngừa cũng như đầu tư nguồn lực cho công tác điều trị. Giúp cho người dân có những kiến thức cần thiết về loại bệnh này và cùng với ngành chức năng phối hợp phòng ngừa bệnh hiệu quả.
Việt Nam là một nước có tỷ lệ mắc bệnh cao và có những đặc điểm bệnh sỏi riêng như người bệnh thường tới viện muộn khi sỏi đã to có nhiều biến chứng nặng nề như :nhiễm khuẩn niệu, suy thận. Do đó bên cạnh sự phát triển các kỹ thuật hiện đại để điều trị bệnh sỏi tiết niệu có lợi cho người bệnh trong thời gian gần đây thì phẩu thuật sỏi tiết niệu vẫn chiếm tỷ lệ không nhỏ (30 - 50%) trong điều trị. Tại BVĐK huyện Mê Linh người bệnh sỏi tiết niệu được điều trị chủ yếu bằng phương pháp phẫu thuật.Để nâng cao kết quả điều trị,giảm thiểu tối đa các tai biến,biến chứng thì ngoài việc nâng cao kỹ-chiến thuật điều trị,ứng dụng công nghệ cao thì vấn đề theo dõi chặt chẽ,chăm sóc NB chu đáo hàng ngày của ĐD là hết sức quan trọng .Công tác ĐD tốt sẽ góp phần đáng kể giúp NB được điều trị thành công cả về thể xác lẫn tinh thần.Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kết quả chăm sóc điều trị người bệnh sau phẫu thuật sỏi đường tiết niệu tại khoa ngoại bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh năm 2021”. Nhằm hai mục tiêu sau: 1.
Mô tả đặc điểm người bệnh được phẫu thuật lấy sỏi tiết niệu tại bệnh viên đa khoa huyện Mê Linh - Hà Nội 2. Phân tích kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc về giải phẫu hệ tiết niệu 1. Đặc điểm giải phẫu hệ tiết niệu [28, 33] [48].1: Giải phẫu hệ tiết niệu 1.
Thận: Vị trí: Thận có 2 quả, nằm ngoài phúc mạc, dọc 2 bên cột sống thắt lưng, trong góc tạo bởi xương sườn 11 và cột sống. Thận trái có cực trên tương ứng với bờ trên xương sườn 11, cực dưới tương ứng với mỏm ngang đốt sống thắt lưng 3. Thận phải thấp hơn thận trái 1 xương sườn. Hình thể ngoài: Thận có hình hạt đậu, mầu đỏ tím, nặng 135-140 g, dài 12 cm, rộng 6 cm, dầy 3 cm.Có 2 cực: trên, dưới;2 bờ: bờ ngoài lồi, bờ trong lõm, có rốn thận chứa thành phần của cuống thận gồm: Động mạch thận, tĩnh mạch thận, niệu quản, thần kinh.2 mặt: Mặt trước lồi, mặt sau phẳng.
Thang Long University Library 4 Hình thể trong và cấu tạo: - Bổ dọc thận từ ngoài vào trong có: - Bao xơ: Bao bọc thận, nằm trong 1 ổ chứa đầy mỡ gọi là ổ thận. - Nhu mô thận: Có 2 vùng vỏ và tủy, được cấu tạo bởi các đơn vị thận (nephron). Mỗi thận được cấu tạo bởi khoảng 1 triệu đơn vị thận, mỗi đơn vị thận gồm có: Cầu thận: Là 1 bóng tròn lõm ở giữa, được cấu tạo bởi 2 lớp biểu mô mỏng gọi là bọc Bowman. Bọc Bowman chứa 1 cuộn mao động mạch bên trong gọi là tiểu cầu thận.
Ống thận: Từ cầu thận đi ra gồm có ống lượn gần, quai Henlé, ống lượn xa đổ vào ống thẳng. Xoang thận: Là phần rỗng, nằm ở 1/3 giữa quả thận, thành xoang có những chỗ lồi vào gai thận. Xoang thận gồm các đài thận nhỏ, đài thận lớn và bể thận. Mạch máu, thần kinh: Thận được cấp máu bởi động mạch thận phải và trái tách từ động mạch chủ bụng.Thần kinh chi phối là các nhánh của đám rối dương.Niệu quản Hình thể ngoài: Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang, dài 25 cm, rộng 3 – 5 mm, có 3 chỗ hẹp, chia 4 đoạn [44].
Ba chỗ hẹp: Ở 3 vị trí: - Niệu quản nối với bể thận, đối chiếu ra thành bụng là điểm niệu quản trên. - Niệu quản bắt chéo trước động mạch chậu gốc, đối chiếu ra thành bụng là điểm niệu quản giữa. - Niệu quản chui vào bàng quang. Phân đoạn: - Đoạn bụng: Đi từ bể thận tới mào chậu, nằm sát vào thành bụng sau.
- Đoạn chậu: Đi từ mào chậu tới eo trên. - Đoạn chậu hông: Từ eo trên đến bàng quang nằm trong chậu hông bé. + Ở nam giới: Đoạn chậu hông nằm sát thành bên chậu hông, chạy dọc theo động mạch chậu trong rồi ra trước trực tràng, lách giữa túi tinh và bàng quang. + Ở nữ giới: Đoạn chậu hông nằm sát thành bên chậu hông cùng với động mạch chậu trong tạo nên hố buồng trứng, sau đó chui vào đáy dây chằng rộng 5 tới mặt bênâm đạo lách giữa âm đạo và bàng quang, khi tới ngang eo tử cung và cách cổ tử cung 15mm, niệu quản bắt chéo phía sau động mạch tử cung.
- Đoạn bàng quang: Chạy chếch xuống dưới, vào trong nằm trong thành BQ. Hình thể trong và cấu tạo: Gồm 3 lớp:lớp vỏ, lớp cơ trơn có thớ vòng ở giữa 2 thớ dọc và lớp niêm mạc. Mạch máu, thần kinh: Niệu quản được nuôi dưỡng bằng động mạch niệu quảnvà chi phối bởi hệ thần kinh thực vật. Bàng quang Vị trí, hình thể ngoài: Bàng quang là túi chứa nước tiểu, nằm trong chậu hông bé, sau xương mu, dưới các quai ruột, trước các tạng sinh dục và trực tràng, dung tích 250 - 300ml, có 3 mặt.
- Mặt sau trên: Có phúc mạc phủ, tạo thành các túi cùng. Túi cùng trước bàng quang. Túi cùng sau bàng quang: ở nữ là túi cùng bàng quang - tử cung, ở nam là túi cùng bàng quang - túi tinh. - Mặt sau dưới (đáy bàng quang): Hình tam giác, đỉnh là lỗ niệu đạo.
Ở nữ: Phía trên liên quan với tử cung, phía dưới liên quan với âm đạo. Vì vậy cần thận trọng khi làm các thủ thuật sản khoa để tránh rò bàng quang âm đạo. Ở nam; Liên quan với túi tinh, tuyến tiền liệt, trực tràng. - Mặt trước dưới: Dây chằng mu bàng quang.
Cân rốn trước bàng quang. Khoang mỡ trước bàng quang. Hình thể trong, cấu tạo: - Vòm bàng quang: Là phần di động, trun giãn, khi đầy nước tiểu lồi lên ổ bụng gọi là cầu bàng quang. - Đáy bàng quang (mặt sau dưới): Là phần cố định, 2 lỗ niệu quản, 1 lỗ niệuđạo tạo thành tam giác bàng quang.
- Cấu tạo: Gồm 3 lớp: Lớp ngoài là mô liên kết. Lớp giữa là cơ, có 3 thớ cơ dọc, vòng, chéo. Lớp trong là niêm mạc. Niệu đạo Hình thể ngoài: - Niệu đạo nam: Là đường dẫn nước tiểu và là đường dẫn tinh, dài 16cm, đi từcổ bàng quang xuyên qua tuyến tiền liệt, cong ra trước, lên trên ôm lấy bờ dưới khớp mu sau đó quặt xuống dưới vào dương vật, ra ngoài lỗ sáo.
- Niệu đạo nữ: Là đường dẫn nước tiểu, dài 3 - 4cm, đi từ cổ BQ xuống dưới ratrước tới âm hộ, ra ngoài qua lỗ niệu đạo. Lỗ niệu đạo ở tiền đình, trước lỗ âm đạo. Thang Long University Library 6 Phân đoạn Niệu đạo nam: Chia 2 đoạn - Đoạn cố định gồm: Đoạn tuyến tiền liệt: Dài 2,5 - 3cm, xuyên qua tuyến tiền liệt. Có ụ núi ở giữa mặt sau niệu đạo, 2 bên ụ núi có lỗ phóng tinh.
Có cơ thắt trơn niệu đạo ở gần cổ BQ. Đoạn màng: Dài 1,2cm, xuyên qua cân đáy chậu giữa, có cơ thắt vân niệuđạo, đoạn này dễ tổn thương khi vỡ xương chậu. - Đoạn di động (niệu đạo xốp): Dài 12cm, nằm trong vật xốp của dương vật, thông ra ngoài qua lỗ sáo. Niệu đạo nữ: Chia 2 đoạn - Niệu đạo chậu hông: Có cơ thắt trơn niệu đạo.
- Niệu đạo đáy chậu: Xuyên qua cân đáy chậu giữa, có cơ thắt vân niệu đạo. Sinh lý hệ tiết niệu: 1.