Tổng quan luận án

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nguyên nhân hàng đầu gây mắc bệnh và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên phạm vi toàn cầu. Theo các số liệu được công bố, hàng năm thế giới ghi nhận khoảng 150 triệu lượt mắc và xấp xỉ 2 triệu trẻ tử vong do nhóm bệnh lý này, vượt qua tổng số tử vong của bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải, sốt rét và sởi gộp lại. Tại Việt Nam, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là gánh nặng bệnh tật đứng đầu và là nguyên nhân thứ ba gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Trung bình mỗi trẻ mắc từ 4 đến 6 đợt bệnh mỗi năm, tương đương với 30 đến 80 triệu lượt mắc trên quy mô cả nước. Nghiên cứu thực tế cho thấy sự chậm trễ trong tiếp cận dịch vụ y tế và điều trị không đúng phác đồ là hai nguyên nhân then chốt dẫn tới tử vong; trong đó 48% số trường hợp tử vong do viêm phổi không nhận được chăm sóc y tế trước khi mất. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng kháng sinh thiếu an toàn diễn ra phổ biến với 60,1% trường hợp dùng kháng sinh không theo chỉ định chuyên môn và 87,5% không dùng đủ liệu trình 5 ngày.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là tại Việt Nam, các can thiệp Thông tin - Giáo dục - Truyền thông phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ dưới 5 tuổi còn hạn chế, chủ yếu triển khai đơn lẻ trong hệ thống y tế công lập hoặc truyền thông một chiều, thụ động. Đặc biệt, còn thiếu các thử nghiệm can thiệp đồng thời trên cả ba nhóm đối tượng cốt lõi: bà mẹ, cán bộ y tế và người bán thuốc nhằm tạo chuyển biến mang tính hệ thống cho toàn bộ chu trình xử trí bệnh tại cộng đồng.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành của bà mẹ trong xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì và Đan Phượng từ năm 2005 đến 2007.
  2. Đánh giá hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi của cán bộ y tế tại tuyến xã tại huyện Ba Vì và Đan Phượng từ năm 2005 đến 2007.
  3. Đánh giá hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành bán thuốc của người bán thuốc tại tuyến xã cho trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì và Đan Phượng từ năm 2005 đến 2007.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Không gian: 10 xã thuộc hai huyện Ba Vì (địa bàn can thiệp) và Đan Phượng (địa bàn đối chứng), tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội).
  • Thời gian: Nghiên cứu can thiệp thực tế kéo dài từ tháng 3/2005 đến tháng 1/2008, trong đó giai đoạn chuẩn bị từ tháng 12/2004 và giai đoạn tổng kết số liệu từ tháng 2/2008.
  • Đối tượng: Bà mẹ có con dưới 3 tuổi ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu (dưới 5 tuổi khi kết thúc), cán bộ y tế tại trạm y tế xã và y tế tư nhân, người bán thuốc tại trạm y tế và các quầy thuốc tư nhân trên địa bàn nghiên cứu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thực trạng xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và các giải pháp can thiệp truyền thông:

Về phía bà mẹ và người chăm sóc trẻ:

  • Nhận biết dấu hiệu bệnh: Nghiên cứu tại Mindoro, Philippines (1994) ghi nhận bà mẹ thường chờ từ 5 đến 7 ngày mới tìm kiếm hỗ trợ y tế và ít biết về triệu chứng thở nhanh hay rút lõm lồng ngực. Nghiên cứu tại Bangladesh (2001) và Nepal (2004) chỉ ra phần lớn bà mẹ không nhận biết được các dấu hiệu chỉ báo viêm phổi nặng. Tại Việt Nam, Điều tra Y tế Quốc gia năm 2002 cho thấy 43,5% bà mẹ có kiến thức phòng chống bệnh; nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự (2008) trên 4.800 bà mẹ cho thấy chỉ có 5,0% nhận biết dấu hiệu không uống/bú được, 4,1% biết dấu hiệu co giật, 37,3% biết dấu hiệu thở bất thường và 0,9% nhận biết được dấu hiệu rút lõm lồng ngực.
  • Thực hành tìm kiếm dịch vụ và dùng thuốc: Nghiên cứu của Bùi Đức Dương (2003) ghi nhận 20,9% bà mẹ tự chữa tại nhà khi trẻ ốm; Nguyễn Việt Cồ (2003) phát hiện 26,1% trẻ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chết tại nhà. Về sử dụng thuốc, nghiên cứu của Nguyễn Đình Hường (2000) chỉ ra 55,6% cặp vợ chồng coi kháng sinh là thuốc tốt nhất trị ho sốt; nghiên cứu của Nguyễn Việt Cồ (2002 tại Hà Nam) và số liệu tại Ba Vì (2002) cho thấy tỷ lệ trẻ dùng kháng sinh lên tới 95%, trong đó chỉ 12,5% đến 14,2% dùng đủ 5 ngày. Quan Lệ Nga (Ba Vì) ghi nhận tập quán kiêng khem thức ăn (tôm, cua, cá, rau) khi trẻ ốm.

Về phía cán bộ y tế và người bán thuốc:

  • Cán bộ y tế: Nghiên cứu của Iqbal và Pervez tại Pakistan (1997), Bojalil tại Mexico (1999), Al-Hamzi tại Yemen (2009) đều chỉ ra kỹ năng thăm khám, đếm nhịp thở và tư vấn còn nhiều hạn chế. Tại Việt Nam, nghiên cứu tại Khoái Châu, Hưng Yên (2002) cho thấy 21,7% bệnh nhân không thở nhanh bị chẩn đoán nhầm viêm phổi và 26,3% có thở nhanh bị bỏ sót; nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Hiên (2004 tại Ba Vì và Đan Phượng) ghi nhận 11% cán bộ kê từ 2 loại kháng sinh trở lên và 20% sử dụng kháng sinh đường tiêm ngoại trú. Đặng Minh Hằng (2002) cho thấy chỉ có 5,6% bà mẹ nhận được hướng dẫn cụ thể cách dùng thuốc từ thầy thuốc.
  • Người bán thuốc: Nghiên cứu tại Iran (1998), Ấn Độ (2005), Tanzania (2007) phản ánh tình trạng bán kháng sinh không đơn phổ biến. Tại Việt Nam, Nguyễn Thanh Bình (1997 tại Huế) chỉ ra 43,7% người mua kháng sinh không đơn; Larsson (2000) ghi nhận 67% gia đình dùng kháng sinh theo lời khuyên của người bán thuốc; Dương Văn Đạt (1997 tại Hà Nội) cho biết 83% người bán gợi ý liều dùng chỉ 2 đến 4 viên.

Về các can thiệp Thông tin - Giáo dục - Truyền thông:

  • Trên thế giới: Báo cáo phân tích gộp (meta-analysis) năm 2003 trên 10 nghiên cứu chứng minh quản lý ca bệnh giúp giảm tỷ lệ tử vong trẻ em từ 20% đến 27%. Các can thiệp đào tạo tại Ấn Độ (1988-1991), Ai Cập, Pakistan (2004), Senegal (2006) và nghiên cứu của Ross-Degnan tại Indonesia, Kenya đã đem lại nhiều cải thiện nhưng thường bộc lộ hạn chế khi thiếu giám sát định kỳ.
  • Tại Việt Nam: Hàn Trung Điền (1998-2000 tại Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Trị) can thiệp truyền thông nhóm cho bà mẹ nhưng tỷ lệ tự dùng kháng sinh vẫn cao; Phạm Huy Dũng và cộng sự (2001-2003 tại Nam Định, Hải Dương, Hà Tây) can thiệp hướng dẫn phác đồ cho bác sĩ kê đơn nhưng thiếu tự giám sát tại chỗ; Nguyễn Thị Kim Chúc can thiệp Thực hành nhà thuốc tốt tại Hà Nội; Nguyễn Thị Mai Hiên (2004 tại Hà Tây) can thiệp kết hợp nhưng thời gian ngắn và chưa có giám sát hỗ trợ duy trì hành vi.

Vị trí của luận án: Luận án chọn giải quyết khoảng trống về một mô hình can thiệp đồng thời, tác động trực tiếp vào cả ba nhóm đối tượng (người chăm sóc, người khám chữa bệnh và người cung ứng thuốc) tại vùng nông thôn, kết hợp chặt chẽ giữa truyền thông giáo dục sức khỏe và hoạt động giám sát hỗ trợ liên tục trong thời gian dài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết, định nghĩa và khung tiêu chuẩn chuyên môn sau:

  • Khái niệm bệnh: Xác định theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y tế, chia thành nhiễm khuẩn hô hấp trên (viêm mũi họng, VA, amidan, xoang, tai giữa, ho, cảm lạnh) và nhiễm khuẩn hô hấp dưới (chủ yếu là viêm phổi).
  • Phác đồ điều trị: Tập trung vào phác đồ "Xử trí trẻ ho và khó thở" để phân loại 4 thể bệnh gồm bệnh rất nặng, viêm phổi nặng, viêm phổi, ho và cảm lạnh.
  • Tiêu chí đánh giá chuẩn: Xây dựng dựa trên hướng dẫn của Chương trình Phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Quốc gia, Chương trình Xử trí lồng ghép các bệnh thường gặp ở trẻ em (IMCI) và tiêu chuẩn Thực hành nhà thuốc tốt (GPP) của Bộ Y tế.
  • Khung chuyển đổi hành vi: Ứng dụng nguyên lý Thông tin - Giáo dục - Truyền thông bắt nguồn từ Hội nghị Alma-Ata năm 1978, thực hiện theo lộ trình từ nâng cao nhận thức đến thay đổi thái độ, hình thành thực hành đúng và duy trì hành vi tại cộng đồng.

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Thiết kế nghiên cứu: Can thiệp cộng đồng có đối chứng, theo dõi dọc và đánh giá Trước - Sau can thiệp trên cùng một nhóm đối tượng nghiên cứu.
  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:
    • Chọn địa bàn: Chọn 2 huyện Ba Vì (can thiệp) và Đan Phượng (đối chứng). Tiến hành ghép cặp 5 cặp xã tương đồng dựa trên 3 tiêu chí: tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh và tỷ lệ trẻ khám tại trạm y tế. Tại mỗi xã chọn ngẫu nhiên 3 thôn.
Cặp xã Xã can thiệp (huyện Ba Vì) Xã đối chứng (huyện Đan Phượng)
Cặp 1 Vân Hòa Liên Hồng
Cặp 2 Cẩm Lĩnh Phương Đình
Cặp 3 Cam Thượng Tân Hội
Cặp 4 Thụy An Thượng Mỗ
Cặp 5 Phong Vân Hồng Hà
  • Mẫu bà mẹ: Tính toán cỡ mẫu dựa trên công thức so sánh hai tỷ lệ với phần mềm Sample size Determination in Health Studies 2.0 của Tổ chức Y tế Thế giới ($p_1 = 46,2%$, $p_2 = 60%$, độ tin cậy 95%, lực mẫu 80%). Cỡ mẫu tính toán tối thiểu là 300 bà mẹ cho mỗi nhóm. Toàn bộ 682 bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại thời điểm ban đầu được đưa vào theo dõi dọc. Tại thời điểm đánh giá sau can thiệp, số liệu hoàn chỉnh của 625 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được đưa vào phân tích (Ba Vì: 301, Đan Phượng: 324).
  • Mẫu cán bộ y tế: Chọn mẫu toàn bộ cán bộ y tế trạm y tế và tư nhân tại các xã nghiên cứu; tổng số theo dõi và phân tích là 79 cán bộ (Ba Vì: 36, Đan Phượng: 43).
  • Mẫu người bán thuốc: Chọn mẫu toàn bộ người bán thuốc tại trạm y tế và quầy thuốc tư nhân; tổng số phân tích là 47 người (Ba Vì: 23, Đan Phượng: 24).
  • Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu:
    • Định lượng: Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc phỏng vấn trực tiếp kiến thức và thực hành của bà mẹ (thực hành đánh giá trên nhóm có con mắc bệnh trong vòng 2 tháng trước điều tra); phỏng vấn kiến thức cán bộ y tế và quan sát thực hành trực tiếp bằng bảng kiểm do chuyên gia tuyến Trung ương thực hiện; phỏng vấn kiến thức người bán thuốc và quan sát thực hành bằng kỹ thuật đóng vai khách hàng bí mật mua thuốc cho trẻ ho, cảm lạnh không có đơn.
    • Định tính: Thực hiện thảo luận nhóm trọng tâm trước và sau can thiệp với các nhóm bà mẹ, bà mẹ tích cực, cán bộ y tế và người bán thuốc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1 - Tổng quan tài liệu

Chương này tập trung trình bày tổng quan hệ thống về tình hình dịch tễ học, gánh nặng bệnh tật của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích sâu thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc của bà mẹ, thực hành khám chữa bệnh của cán bộ y tế cơ sở và hoạt động bán thuốc của các nhà thuốc tư nhân. Đồng thời, chương 1 tổng kết các bài học kinh nghiệm từ các chương trình can thiệp truyền thông chuyển đổi hành vi trong và ngoài nước, chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng một mô hình can thiệp đa đối tượng kết hợp giám sát hỗ trợ tại tuyến y tế cơ sở.

Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết đối tượng, địa bàn, thời gian và quy trình nghiên cứu can thiệp. Tác giả trình bày các định nghĩa ca bệnh, tiêu chuẩn đánh giá theo phác đồ "Xử trí trẻ ho và khó thở", công thức tính cỡ mẫu, phương pháp ghép cặp xã và kỹ thuật thu thập số liệu đa dạng (phỏng vấn cấu trúc, quan sát lâm sàng bằng bảng kiểm, đóng vai người mua thuốc và thảo luận nhóm). Chương này cũng nêu rõ quy trình can thiệp gồm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 triển khai truyền thông giáo dục sức khỏe (6/2005 - 5/2006) và Giai đoạn 2 thực hiện giám sát hỗ trợ (9/2006 - 8/2007), đi kèm các quy định về đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3 - Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được trước và sau can thiệp qua hệ thống 31 bảng và 8 hình minh họa, chia thành 4 nhóm nội dung chính:

  • Kết quả ở nhóm bà mẹ: Thể hiện sự chuyển biến về nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đi khám ngay (co giật, ngủ li bì, bỏ bú, thở bất thường), kiến thức và thực hành dùng kháng sinh đúng phác đồ, thực hành xử trí chăm sóc tại nhà (tăng cường dinh dưỡng, uống nhiều nước, làm thông thoáng đường thở) và tuân thủ lịch hẹn tái khám.
  • Kết quả ở nhóm cán bộ y tế: Thể hiện sự cải thiện trong kiến thức phân loại các thể bệnh (bệnh rất nặng, viêm phổi nặng, viêm phổi, ho và cảm lạnh), thực hành hỏi bệnh, kỹ năng đếm nhịp thở, đánh giá rút lõm lồng ngực, kê đơn kháng sinh hợp lý và tư vấn hướng dẫn gia đình theo dõi dấu hiệu nguy hiểm.
  • Kết quả ở nhóm người bán thuốc: Thể hiện sự thay đổi về kiến thức khai thác thông tin trẻ bệnh trước khi bán thuốc, thực hành không bán kháng sinh cho các trường hợp ho, cảm lạnh thông thường và kỹ năng tư vấn hướng dẫn khách hàng đưa trẻ đi khám khi có dấu hiệu nặng.
  • Đánh giá tính khả thi và khả năng duy trì: Phản ánh nhận định, phản hồi tích cực của các nhóm đối tượng nghiên cứu về tính thiết thực và khả năng tiếp tục áp dụng các biện pháp can thiệp tại địa phương.

Chương 4 - Bàn luận

Chương 4 phân tích, lý giải cơ chế tạo nên sự thay đổi kiến thức và thực hành ở cả ba nhóm đối tượng, so sánh kết quả đạt được giữa nhóm can thiệp (huyện Ba Vì) và nhóm đối chứng (huyện Đan Phượng) cũng như đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây. Tác giả phân tích sâu về tính mới, tính khả thi của mô hình can thiệp toàn diện gắn liền với giám sát hỗ trợ, luận giải nguyên nhân của những tồn tại trong thói quen sử dụng thuốc và chỉ rõ các hạn chế nội tại của đề tài nghiên cứu.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận án:

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả của mô hình can thiệp cộng đồng đồng bộ, tác động đồng thời vào ba mắt xích trọng yếu của chu trình chăm sóc trẻ bệnh: bà mẹ (người chăm sóc trực tiếp), cán bộ y tế (người cung cấp dịch vụ điều trị) và người bán thuốc (người cung ứng dược phẩm).
  • Khẳng định vai trò của phương thức truyền thông chủ động kết hợp với hoạt động giám sát hỗ trợ định kỳ tại chỗ, giúp duy trì bền vững các thực hành y tế có lợi, hạn chế tình trạng tái diễn hành vi lạm dụng kháng sinh sau khi kết thúc tập huấn lý thuyết.
  • Đóng góp bộ công cụ nghiên cứu và đánh giá thực hành can thiệp có tính ứng dụng cao cho tuyến y tế cơ sở, bao gồm kỹ thuật quan sát lâm sàng trực tiếp bằng bảng kiểm chuẩn và kỹ thuật đóng vai người mua thuốc đánh giá quầy thuốc tư nhân.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu:

  • Đề xuất nhân rộng mô hình can thiệp kết hợp giám sát hỗ trợ trong phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho các vùng nông thôn có điều kiện tương đồng.
  • Tăng cường công tác quản lý mạng lưới hành nghề dược tư nhân tại tuyến xã, đưa nội dung tư vấn sử dụng thuốc hợp lý và hướng dẫn xử trí bệnh đường hô hấp thông thường vào các chương trình tập huấn định kỳ bắt buộc cho người bán thuốc.
  • Duy trì hoạt động truyền thông tư vấn trực tiếp tại trạm y tế và mạng lưới y tế thôn bản, hướng dẫn bà mẹ nhận biết sớm các dấu hiệu nguy hiểm để đưa trẻ đến khám kịp thời.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Địa bàn nghiên cứu được thực hiện tại hai huyện nông thôn thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ (Ba Vì và Đan Phượng), do đó các đặc điểm về tập quán kinh tế, văn hóa và khả năng tiếp cận y tế mang tính đặc thù của khu vực.
  • Thời gian can thiệp và theo dõi dọc kéo dài hơn 2 năm dẫn đến biến động mẫu nghiên cứu (tỷ lệ hao hụt mẫu do bà mẹ chuyển nơi cư trú, trẻ vượt quá độ tuổi quy định và người bán thuốc nghỉ kinh doanh hoặc chuyển địa bàn).
  • Đánh giá thực hành của người bán thuốc bằng kỹ thuật đóng vai mới chỉ tập trung vào tình huống điển hình là trẻ bị ho, cảm lạnh thông thường không có đơn, chưa đánh giá hết toàn bộ các tình huống bệnh lý phức tạp khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Triển khai thử nghiệm và đánh giá mô hình can thiệp tại các địa bàn có điều kiện địa lý và kinh tế - xã hội khác biệt như vùng miền núi, vùng sâu vùng xa hoặc khu vực đô thị lớn.
  • Đánh giá tác động dài hạn của can thiệp truyền thông và giám sát hỗ trợ đối với sự biến đổi của tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh tại cộng đồng.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng, Dịch tễ học, Y học Dự phòng và Nhi khoa: Tham khảo thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, phương pháp tính cỡ mẫu theo dõi dọc và kỹ thuật ghép cặp xã.
  • Cán bộ quản lý y tế và hoạch định chính sách tại Trung tâm Y tế huyện, Sở Y tế và Bộ Y tế: Ứng dụng giải pháp can thiệp đa đối tượng và cơ chế giám sát hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em.
  • Các chương trình y tế công cộng và quản lý dược: Sử dụng bộ công cụ đánh giá thực hành kê đơn và bán thuốc (bảng kiểm lâm sàng, phương pháp khách hàng bí mật) để kiểm soát chất lượng hành nghề y dược tư nhân tại tuyến cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu nào và được triển khai tại đâu?
Luận án sử dụng thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, theo dõi dọc và đánh giá Trước - Sau can thiệp trên cùng nhóm đối tượng. Địa bàn triển khai gồm huyện Ba Vì (huyện can thiệp) và huyện Đan Phượng (huyện đối chứng) thuộc tỉnh Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), với 5 cặp xã được ghép cặp tương đồng và bốc thăm ngẫu nhiên.

2. Cỡ mẫu của nhóm bà mẹ được tính toán dựa trên những chỉ số nào?
Cỡ mẫu được tính theo công thức so sánh hai tỷ lệ bằng phần mềm của Tổ chức Y tế Thế giới, dựa trên tỷ lệ bà mẹ biết dấu hiệu thở nhanh ban đầu $p_1 = 46,2%$ và giả định sau can thiệp đạt $p_2 = 60%$ (độ tin cậy 95%, lực mẫu 80%). Sau khi tính toán thêm tỷ lệ mắc bệnh trong 2 tháng và dự phòng 10% bỏ cuộc, cỡ mẫu quy định là 300 bà mẹ cho mỗi nhóm. Thực tế đã theo dõi dọc 682 bà mẹ và phân tích số liệu hoàn chỉnh của 625 bà mẹ.

3. Phương pháp đánh giá thực hành của cán bộ y tế và người bán thuốc được thực hiện như thế nào?
Thực hành của cán bộ y tế được đánh giá qua quan sát trực tiếp bằng bảng kiểm do các chuyên gia của Chương trình Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tuyến Trung ương thực hiện. Thực hành của người bán thuốc được đánh giá bằng phương pháp đóng vai khách hàng bí mật (mystery shopping) với tình huống bà mẹ mua thuốc cho con bị ho, cảm lạnh không có đơn, quan sát và ghi nhận theo bảng kiểm.

4. Những dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đi khám ngay được định nghĩa trong nghiên cứu gồm những gì?
Các dấu hiệu nguy hiểm cần khám ngay được xác định gồm: co giật, ngủ li bì khó đánh thức, không uống hoặc không bú được, sốt cao hoặc hạ nhiệt độ, ho kéo dài và có biểu hiện thở khác thường (thở nhanh, khó thở, rút lõm lồng ngực).

5. Thời gian nghiên cứu can thiệp được phân chia theo các giai đoạn nào?
Nghiên cứu kéo dài từ tháng 3/2005 đến tháng 1/2008, gồm các mốc chính: đánh giá trước can thiệp (3/2005 - 5/2005), triển khai truyền thông giáo dục sức khỏe (6/2005 - 5/2006), triển khai giám sát hỗ trợ (9/2006 - 8/2007) và đánh giá sau can thiệp (9/2007 - 1/2008).

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Minh Hiếu đã đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp cộng đồng đa chiều trong xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại hai huyện Ba Vì và Đan Phượng. Thông qua việc kết hợp đồng bộ giữa truyền thông giáo dục sức khỏe và hoạt động giám sát hỗ trợ liên tục, nghiên cứu đã tạo ra những chuyển biến rõ nét về kiến thức, thực hành chăm sóc của bà mẹ, năng lực chẩn đoán, kê đơn của cán bộ y tế và kỹ năng tư vấn, bán thuốc của người bán thuốc. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và bộ công cụ đánh giá thực chứng, đóng góp thiết thực cho công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em và quản lý sử dụng kháng sinh an toàn tại tuyến y tế cơ sở.